Category Archives: YearEnd Writings

Hai năm dồn lại

Năm ngoái, chẳng hiểu tại sao tôi chẳng có nhu cầu viết gì cho một năm. Năm nay, tôi viết luôn cho hai năm vậy.

Hai năm qua, tôi đã trải qua nhiều điều quan trọng của một đời người: Lấy chồng, mua đất, rồi đột nhiên được học bổng, thế là chuyển tới nước khác, và trong nhà có thêm một con chó.

Tuy nhiên, có một điều đáng nói trước hết tất cả những điều ấy, đó là chuyện ông nội tôi mất. Khác với ông ngoại, người đã ốm đau bệnh tật liên miên, ở bệnh viện nhiều hơn ở nhà, ông nội tôi – dù đã bị liệt chân nhiều năm – đang khỏe mạnh, buổi tối còn ăn cơm gấp quần áo, bỗng nhiên gục xuống rồi chẳng bao giờ tỉnh lại nữa. “Cứ như trong sự sống đã có sẵn cái chết” – khi ngồi trên máy bay để về nhà, tôi nghĩ tới điều ấy. Ông tôi thọ 91 tuổi, cuộc đời trải qua một cuộc cách mạng, hai cuộc chiến, một thời hòa bình – một cuộc đời có thể nói là đáng kể, dù ông chẳng bao giờ kể. Ông sống trong sự nghèo khổ triền miên đến nỗi tôi có cảm giác ông cho rằng ấm no và yên ổn là chuyện không thể xảy ra. Cả đời, tôi chưa từng thấy ông nổi giận, cũng chẳng thấy ông mấy khi được thoải mái tận hưởng niềm vui. Đến cả việc mua một cái bánh để ăn, ông cũng rón rén, giấu diếm sợ người khác biết. Vì sự hỗn loạn của gia đình tôi kèm theo tính cách hiền lành, run rẩy ấy, ông cũng khốn khổ đủ đường. Những năm vui vẻ nhất cuộc đời ông, có thể là những năm cuối đời, khi ông đã trở nên lẫn lộn giữa hư và thực. Ông ở trong căn phòng riêng, hát hò hớn hở. Mọi sự lục đục, la lối vốn luôn làm ông co rúm, vào lúc ấy chẳng còn tác dụng gì nữa.

Tôi vẫn nhớ những lúc chạy trốn khỏi những cơn say của mẹ, tôi cũng có lúc chạy tới tìm ông. Mẹ tôi luôn tìm tới đó đầu tiên, và rồi chẳng phải mình tôi mà cả ông cũng trở thành mục tiêu tấn công. Ông mỗi lần đối mặt với chuyện ấy lại hớt hải, lẩy bẩy. Về sau, tôi không làm thế nữa, tôi chọn những nơi mà mẹ tôi chẳng thể tìm ra. Chính vì thế, tôi chưa bao giờ nghĩ về ông như một phần của mái ấm gia đình. Trái lại, tôi luôn nghĩ về ông như một nạn nhân của mọi thứ, của đói nghèo, chiến tranh, mất đi cơ hội được học hành, vợ mất sớm, nạn nhân gián tiếp của bạo lực gia đình, chịu sự bỏ bê của con cái, đến tận những ngày cuối đời vẫn không được yên ổn hoàn toàn. Tôi nghĩ cuộc đời ông có quá nhiều điều đáng buồn như thế, hẳn cái chết là một cái kết có hậu. Và bởi ông hiền lành, nhân hậu như thế, nên ông được miễn khỏi những đau đớn thể xác trước khi qua đời.

Ông mất sau ngày cưới của tôi không lâu, chồng tôi vì thế, phải học một loạt điều mới về văn hóa Việt Nam. Sự khác biệt giữa chúng tôi chỉ lộ ra khi những sự kiện lớn như vậy xảy ra. Còn lại, chúng tôi, dẫu hai quốc tịch, sống ở hai bên bán cầu, chẳng gặp phải khó khăn gì. Chuyện chúng tôi cưới nhau gần như đã được quyết định chỉ sau một tháng hẹn hò. Vì chẳng hiểu tại sao, chúng tôi hợp với nhau đủ thứ từ chuyện ham đi chơi, thích ở một mình, thích xem và đọc những thứ tương tự, cho tới chuyện ăn ở lộn xộn. Chỉ trong hơn hai năm, chúng tôi đi từ Đông sang Tây, từ Nam đến Bắc quả địa cầu. Nhờ có anh, cuộc sống của tôi ở Mỹ rất thong dong, chuyện roadtrip trong mơ của bao người tự nhiên trở nên quá dễ dàng đối với tôi. Chúng tôi có thể nằm ườn cả tuần trong nhà, rồi đột nhiên quyết định đi. Vậy là cả người, cả chó và vali chất lên xe, và đi. Đi về, chúng tôi lại nằm ườn ra như cũ.

Tuy vậy, sự dễ dàng khi sống chung với một người Mỹ không đồng nghĩa với việc tôi hòa nhập được ngay với cuộc sống ở đây. Khi tới đây, tôi mới nhận ra mình nói tiếng Anh kém như thế nào. Dù không gặp phải khó khăn gì trong việc ổn định nhà cửa, cũng chẳng gặp khó khăn gì trong việc nghe giảng, hay đọc tài liệu, tôi cảm thấy vô cùng vất vả với việc trình bày quan điểm hay tranh luận trong lớp. Không phải vì tôi không có gì để nói, mà việc nói ở trong lớp ở đây giống một cuộc chiến, ai cũng phải tranh nhau để nói. Vì thế, nói cho thật nhanh, thật rõ, thật gãy gọn, thật hấp dẫn trở thành một sức ép lớn.

Tuy nhiên, nhờ vậy, tôi thấy được văn hóa học đường của nước Mỹ. Một giáo sư của tôi nói rằng: Em đừng đặt áp lực quá lớn lên mình, em đang học bằng ngôn ngữ khác trong một ngành học rất nặng về ngôn ngữ, như thế đã là một thành công rồi. Một giáo sư khác lại nói: Đương nhiên là bạn sẽ phải đọc nhiều hơn các bạn khác, vì nhiều điều với họ vốn đã là kiến thức phổ thông thì với bạn lại là một điều mới toanh cần học, điều ấy bình thường thôi, cố gắng một chút là được. Một giáo sư khác nữa lại nói: Em đừng lo vì em chưa đọc những thứ này, vì châu Á cũng là thứ chúng ta sẽ phải học đến nhiều. Một giáo sư nữa thì nói: Áp lực với em sẽ nhiều hơn áp lực với các sinh viên khác, nhưng các giáo sư sẽ chẳng vì thế mà đối xử với em ưu ái hơn, em chỉ cần nhớ, nếu cảm thấy quá tải, thì luôn có người lắng nghe, và luôn có cách để tìm sự trợ giúp.

Tức là thay vì gào lên: Sao có mỗi những chuyện đó mà cũng không hiểu? Thì họ dành ra cả 20 phút chỉ để an ủi rằng dốt nát là một vấn đề toàn cầu và ai cũng dốt. Chê bai là chuyện hoàn toàn không được chấp nhận, và nếu ai đó nói với bạn rằng bài của bạn chưa được tốt lắm, thì tốt nhất bạn nên ngồi xuống và tự hỏi: Tôi có nên đi học nữa không.  Sau mỗi buổi nói chuyện đầy tình thương mến thương ấy, tôi lại được nhận được những chú thích cần đọc thêm, nghe thêm, xem thêm, sửa lại lần sau nhiều hơn lần trước. Tức là càng học, tôi càng thấy mình dốt nát thảm họa. Đến nỗi tôi cảm thấy dù thế nào đi nữa, tôi sẽ rời khỏi khóa học này với một sự tự ti gấp 10 lần trước trước khi tôi bước vào nó. Tuy nhiên, chẳng hiểu nhờ phép thần kỳ nào mà tôi vẫn xong được một kỳ học, ngoảnh lại thấy tài liệu mình đã đọc qua chất cao quá đầu, và sự dốt thì vẫn hoàn dốt cũng vẫn ở đó.

Dẫu vậy, trong cơn bàng hoàng phải đọc, đọc và đọc thật nhiều để có thể hiểu về văn hóa, nghệ thuật, chính trị nước Mỹ, tôi vẫn có thời gian để nói chuyện với người Mỹ. Thế rôi dần dần, tôi nhận ra rồi ở đâu cũng như ở đâu, con người về cơ bản có từng ấy mối lo, có từng ấy mong ước, có từng ấy chờ đợi. Họ chỉ mong được bình yên hạnh phúc.

Tôi đến với đất nước này trong một giai đoạn tương đối đặc biệt. Nhiều lần tôi được hỏi: “Cô nghĩ gì về tổng thống mới của chúng tôi?”. Tôi, sau quá nhiều lần chứng kiến tranh cãi giữa hai bên ủng hộ và phản đối Trump, đã tìm ra được một cách trả lời khéo léo: “Từ phương diện communication mà nói, tôi nghĩ ông ấy là một trường hợp chính trị gia đặc biệt!”. Thế nhưng, không phải lúc nào người nói chuyện với tôi cũng hài lòng với câu trả lời ấy. Ở đây, việc không có chính kiến xem ra là một điều đáng trách. Cô bé học cùng lớp với tôi, quá trẻ và quá hăng hái, bảo tôi rằng: “Mày không thể trả lời kiểu ấy được. Mày biết đó, không ai đạt tới một trình độ học vấn nhất định mà lại không phản đối Trump cả!”. Chỉ câu nói ấy thôi, thế là lại có thêm một cuộc tranh luận nảy lửa mới.

Mỗi lần chứng kiến những điều ấy, tôi lại có cảm giác mà hàng nghìn người Việt Nam đi sang nước khác chắc cũng đã có: Sự ngơ ngác khi nhận ra mình không có những thói quen của họ. Tôi ước gì được nhìn thấy sinh viên ở Việt Nam tranh luận về chính trị, tham gia thảo luận về luật và giải pháp xã hội mỗi ngày như thế. Tôi cũng ước gì bố mẹ tôi, có thể sống thoải mái về mặt tinh thần như những người già ở đây. Mỗi buổi chiều, khi thấy bà cụ hàng xóm ra ban công ngồi hút thuốc, tôi lại ước gì mẹ mình cũng tự tin hút thuốc, chẳng phải lén lút vì sợ người khác đánh giá như vậy. Thế nhưng, cùng lúc ấy, tôi nhận ra rằng khi sống hoàn toàn trong xã hội phương Tây, tôi lại nhớ về châu Á và những thói quen đáng yêu của họ. Và quả thật, tôi thấy buồn, vì trong cơn bão của toàn cầu hóa dữ dội, những thói quen ấy dần đang mất đi, vì chúng ta tưởng rằng phương Tây mới là chuẩn mực của mọi thứ.

Tuy nhiên, chẳng có gì quá quan trọng. Thật đấy, vì Đông hay Tây rồi cũng kết thúc như khủng long cả. Tôi ngày càng không còn tin là loài người sẽ có kết cục tươi sáng gì, dù họ đang cố gắng ra sao. Mỗi lần bước vào siêu thị, hay mỗi lần nhìn những dòng xe chen chúc, hay nhìn những sân bay hỗn loạn, tôi chỉ có một cảm giác choáng ngợp về sự đông đúc của loài người, về số lượng tài nguyên phải phục vụ họ. Hay mỗi lần ngồi trên xe đi xuyên các cánh đồng ở Hà Lan hay Mỹ, tôi lại thêm tuyệt vọng vào sự phát triển quá lớn của nền công nghiệp nông nghiệp. Nói chung, chẳng có gì có thể cứu vãn nổi. Nhưng tệ nhất là khi loài người đi tới diệt vong, họ còn phải kéo theo nhiều loài vật khác.

Thế là đột nhiên, tôi cảm thấy mất nhuệ khí, rồi lại cũng đột nhiên, tôi thấy mình có thêm động lực để phải học, phải làm. Hai cảm giác ấy cứ chao đảo qua lại với tôi từng ngày. Thế nhưng, trong quá trình chao đảo ấy, trong hai năm qua, tôi vẫn bay nhiều đến nỗi không đếm nổi số chuyến, đến nỗi một phần mềm nói rằng ai cũng sống như tôi thì cần một quả đất rưỡi mới đủ phục vụ. Thế nên, bạn có biết tôi ước gì cho năm mới không? Tôi chỉ ước mình không phải bay đi đâu nữa.

Advertisements

2015 hay còn gọi là bà già kể chuyện

image

Con mèo thân yêu ở Sedona – Arizona trong một ngày trời quá đẹp

Như thường lệ, đã đến lúc viết tổng kết năm cũ một chút.
Năm 2015 có lẽ là là năm nhiều điều để kể nhất trong 30 năm cuộc đời tôi. Chuyện nhiều người biết nhất là chuyện Nepal phải trải qua một trận động đất khiến hàng nghìn người thiệt mạng và tôi đang trên bầu trời Nepal lúc đó. Chuyện ít người biết hơn là tôi biết thêm một giống mèo mới, đầu nhỏ bụng phệ và lông mượt như nhung.
Tôi đã rời khỏi ngôi trường tôi bỏ nhiều công sức xây dựng. Cùng lúc đó, tôi làm được nhiều việc mà tôi vốn định làm hoài mà không được. Năm qua, tôi cũng đi nhiều hơn, đúng như mong muốn của tôi ngày này năm trước. Dẫu vậy, tôi phải nói rằng điều may mắn nhất là sau nhiều năm không hề chờ đợi, tôi đã gặp được người đàn ông tôi muốn lấy làm chồng. Với anh, tôi đã đi nhiều nơi, đã kể nhiều chuyện và cũng nghe nhiều chuyện khác nhau, không drama, không có chút gì căng thẳng.

Tuy vậy, có lẽ cuộc đời tôi đã trở nên ít đáng kể đến mức tôi không còn muốn nhắc đến nó nữa. Cách đây vài ngày, tôi ngồi trong một bữa tiệc giáng sinh và một phụ nữ Mỹ hỏi tôi: “Ở Việt Nam mày có đi học không?”. Tôi rất sẵn lòng nói rằng tôi không hề đi học và phải đánh cá kiếm sống, nhưng thay vào đó, tôi chỉ nhe răng cười và bạn tôi trả lời hộ rằng tôi có đi học. Tôi nghĩ dù người Việt Nam có đứng đầu thế giới ở những khoản mục nào, thì vẫn đầy người tưởng rằng tất cả chúng ta làm ở quê nhà là còng lưng cấy lúa và đào khoai lang. Tiện thể, tôi rất thích khoai lang, nhất là khi nó được nấu thành chè theo công thức gia đình: Khoai lang, đậu đỏ, lạc và cái gì nữa chẳng biết. Tôi ước gì mình có thể kể về đời mình như một cô gái nghèo khổ rồi trở thành một người phụ nữ thành đạt nhưng vẫn chỉ ăn khoai lang. Tiếc rằng nó hoàn toàn không có gì giống vậy.
Vì vậy, tôi sẽ kể về chuyện khác. Trước hết là chuyện Tịnh Trúc Gia.
Tịnh Trúc Gia ở đâu? Đó là một trường nội trú, hay một trung tâm bảo trợ xã hội, hay một ngôi nhà dành cho các bạn gặp khó khăn trong phát triển trí tuệ tại Huế. Nó nằm trên một ngọn đều vô cùng yên tĩnh, giữa những ruộng sả.
Tôi đến đây trong một giai đoạn khá khó khăn – dù nghĩ lại thì cũng chẳng khó khăn gì – tôi vẫn ăn uống tì tì và đi làm đầy đủ. Tuy vậy, đó là một giai đoạn mà tôi nghĩ mình hơi yếu ớt hơn bình thường. Và tôi gặp các bạn học sinh, những người gặp rất nhiều khó khăn trong việc nói, biểu đạt, điều khiển hành vi, xúc cảm… Các bạn thức dậy lúc 5h sáng, đi ngủ lúc 8h tối, luôn cảm ơn, chúc ngon miệng trước bữa ăn và luôn tươi cười mỗi khi có ai chào. Tôi chưa thấy nơi nào sạch sẽ và nhiều niềm vui đến thế, nhất là vào đêm thứ Năm, khi tôi ngồi cùng các bạn trong buổi chia sẻ. Một bạn nọ, người mắc hội chứng down, đã nói về những điều làm bạn vui trong 2 ngày cuối tuần: gặp anh – vui, đi chơi – vui, lên chùa – vui, uống nước mía – vui, ngồi xe máy – vui…
Tôi đã tự hỏi mình: Cái gì khiến tôi vui nhỉ? Tôi cần quá nhiều điều để vui. Tôi quá bận tìm kiếm điều giúp mình thấy có ý nghĩa. Trong khi đó, cuộc sống như nó vốn có, đã đáng vui lắm rồi. Tôi bật cười và nhận ra mình mới “tàn tật” đến mức nào. Cùng lúc đó, tôi thấy những gì mình đã cố gắng và nỗ lực mới bé nhỏ làm sao trước những gì những người ở Tịnh Trúc Gia làm. Và hẳn đó là một trong những lý do khiến tôi thấy cuộc đời mình không có gì đáng kể.

Chuyện thứ hai là chuyện tôi gặp một người phụ nữ nọ ở sân bay. Bà chừng đâu hơn 60 tuổi, đùm đùm gói gói như mọi người phụ nữ Việt chừng tuổi ấy. Trông bà như một chùm bòn bon, mồ hôi nhễ nhại, đầu bù tóc rối. Giữa một đống người Hàn Quốc sạch sẽ giống hệt nhau, bà nhận ra một cô ả người Việt nom cũng khá giống bà chỉ có điều không giốn chùm bòn bon mà giống cây mía lau. Chùm bòn bon tiến lại và hỏi: “Cháu cũng đi Mỹ à?” Tiếc là cây mía lau không đi Mỹ mà chỉ đi đến một thành phố nhiều thịt lợn ở châu Á. Tuy vậy, chùm bòn bon cũng không lấy làm phiền. Bà ngồi xuống cạnh và than phiền về việc bà đã mua một bộ chày cối và người ta đã tịch thu cái chày khỏi túi hành lý xách tay của bà, để lại cái cối vô dụng vốn có thể thay bằng cái bát ô-tô ở Mỹ. Cây mía lau chia sẻ với bà chuyện ấy và hỏi: “Bác đi với ai?”. Hóa ra bà không đi với ai cả, bà đi một mình, không nói một chữ tiếng Anh, và phải quá cảnh 2 lần trước khi đến được nhà con gái. Bà đã sống 8 năm ở Mỹ và vẫn liên tục quay về thăm quê nhà hang năm. Cây mía lau vô cùng kinh ngạc tại sao một người phụ nữ ở từng đó tuổi, với từng đó túi gói trên người, không thể giao tiếp bằng lời nói với ai, lại có thể đi đi về về nhiều đến vậy.
Và rồi mía lau tôi chợt nhận ra một điều rất đơn giản: Bà có thể làm vậy, vì rõ ràng bà muốn ở gần người con gái ở đất nước cách quê nhà nửa vòng trái đất. Những khó khăn mà bất kì ai cũng có thể gặp khi phải chạy lòng vòng ở các sân bay để tìm cổng khởi hành, xếp hàng trong mệt mỏi để chờ kiếm tra hộ chiếu chẳng có gì đáng kể nếu so sánh với những gì một người mẹ phải trải qua để nuôi con cái họ lớn khôn. Tôi sẽ chẳng bao giờ ngừng kinh ngạc về những bà mẹ – đặc biệt là những bà mẹ Việt.
Và tôi hiểu rằng tôi sẽ còn tiếp tục ngạc nhiên trước cuộc sống kì lạ này. Ví dụ như việc tôi nhận ra âm 8 độ vẫn còn là ấm lắm.
Quay lại với chính mình, tôi nghĩ mình vô cùng may mắn khi gặp những con người tuyệt vời trong năm vừa qua. Tôi nghĩ tôi đã trưởng thành hơn hẳn trong năm qua vì đã gặp được họ, và nhờ thế tôi mới được người đàn ông ấm áp nhất thế giới đem lòng yêu và biết mình sẽ làm được mọi thứ.
Điều quan trọng là trong năm tới tôi sẽ phải học cách sống đơn giản hơn nữa. Tôi sẽ không còn đi liên tục như năm nay, nhưng có lẽ tôi đã sẵn sàng để học cách chờ đợi một ai đó mỗi khi lên kế hoạch. Con mèo lục lạc của tôi – bạn đồng hành trong suốt 7 năm qua, đã đi qua cả động đất, đầm lầy, sa mạc, ngủ trong lều và cả trên giường khách sạn 5 sao cùng tôi – có lẽ cần được vẽ lại mắt mũi.
Nhưng dù có mắt mũi hay không, nó cũng chúc các bạn một năm mới mà bạn sẽ luôn tự hào mỗi khi nhớ lại.

%d bloggers like this: