Category Archives: Nhảm thoải mái

Về đi bộ, hay là về tôi

Hôm qua bạn tôi hỏi, ở Mỹ thích nhất cái gì?

Người ta thường hay hỏi nhau những câu phải có tính phân loại như vậy. Trong tất cả các món ăn Việt Nam, em thích nhất món nào? Thích nhất bài thơ nào của ai? Thích làm gì nhất? Thích ai nhất trong nhà? Mà không phải hỏi người khác, người ta còn phải hỏi chính mình câu ấy? Rốt cuộc thì khi nào ta từng hạnh phúc nhất? Nơi nào mình muốn quay lại nhất. Tóm lại, trong chính tâm trí của chúng ta đã không có chỗ cho sự bình đẳng.

Nhưng thôi, quay lại câu chuyện nước Mỹ.

Tôi cố gắng mỗi tuần, dù bận rộn với bài vở hay loay hoay với việc thích nghi với việc quay lại làm sinh viên nghèo tới đâu, đều phải dắt con Emma – cô bé cún của vợ chồng tôi – đi dạo. Sở thích của tôi ngày càng đơn giản và giống Henry Thoreau: Đi bộ. Ngay cạnh nhà tôi là đường trail xanh ngắt, thiên đường của bọn sóc, và bọn chó, và bọn người. Thoạt đầu, tôi thấy phiền phức với sự thân thiện rất bộ tịch của người Mỹ. Dù ai đang là gì, hùng hục đạp xe, hăm hở chạy, nhở nha đi bộ… họ đều phải Hi how are you! với một người lạ hoắc họ gặp trên con trail ấy. Con Emma, một giống chó được tạo ra để sống với loài người, thì thân thiện còn hơn mức ấy (và không hề bộ tịch). Nó phải nhảy lên mặt người ta, phải ôm ấp, phải liếm người ta mấy chục nhát, phải ngoáy cái đuôi đã bị cắt cụt lủn từ lúc mới sinh ra đời dăm trăm lần để thể hiện sự phấn khích, nếu ai quan tâm tới nó quá, nò còn phải tè ra một bãi đền đáp.

Con Emma tất nhiên không hiểu được cái lạc thú của việc không chào ai, cũng không nhảy lên người ai của tôi. Khi rảo bước cạnh nó, tôi lại tự hỏi rốt cuộc cuối cùng cái gì ở lại với tôi nhiều nhất sau những chuyến đi? Đó không phải là việc được nhìn thấy cái này hay cái khác, ăn món này hay món kia, được ở khách sạn năm sao hay phòng ngủ tập thể. Đó có thể là những giây phút vui vẻ tôi có với bạn bè mình, với gia đình mình. Nhưng nhiều hơn thế, đó là việc rảo bộ.

Dù ở châu Âu hay châu Á hay châu Mỹ, dù thời tiết nóng bức hay lanh giá, tôi vẫn thích nhất là việc được đi bộ một mình. Và dù đi với ai tới nơi nào, tôi vẫn tranh thủ để được đi bộ một mình đôi chút. Tôi vẫn tự hỏi, cái gì khiến việc đi bộ khiến tôi thích thú tới thế. Nhiều khi, để thấy hạnh phúc, tôi nhắm mắt và hình dung lại những cuộc đi bộ ấy, nhìn lại đường phố Hong Kong hối hả xôn xao với những chiếc xe bus hai tầng vùn vụt chạy tới lui, tàu điện ngầm đều đặn ở Singapore, nghe lại tiếng lá khô trong cánh rừng ven biển Busan, những hàng rào bìm bìm ở Đà Lạt, những cây dừa ven biển Đà Nẵng, những quán kebab ồn ào chật chội ở Istanbul, những con hải âu ngủ gật trên mấy ụ neo thuyền ở Amsterdam, những cột xương rồng ngạo nghễ ở Arizona, những bức tường đá xinh đẹp ở Alnwick… Tôi cứ nghĩ mình càng đi nhiều, càng có chuyện để kể, nhưng hóa ra cái đọng lại nhiều nhất trong tôi lại chỉ là những mảnh ký ức không tương tác ấy.

Việc đi bộ một mình dần trở nên quan trọng tới mức, nếu tôi tới nơi nào mà không có cơ hội làm việc đó, tôi lại có cảm giác là mình chưa thực sự tới đó.

Tôi nghĩ có thể việc đi bộ một mình ấy là một thứ đặc ân hiếm hoi của cuộc đời tôi. Từ khi tôi còn trẻ hơn với vô vàn câu hỏi, khi tôi còn chật vật chiến đấu với chính mình để hiểu ra tại sao tôi phải sống sót và về sau, với công việc quay cuồng, với sự chán nản nhìn vào loài người và bàng hoàng nhận ra mình là một trong số họ, đi bộ là cách để tôi tách ra khỏi chính tôi. Đi bộ một mình khiến tôi thấy mình thu bé lại, chính tôi có thể quan sát thấy tôi len lỏi giữa những cái cây, những cột điện, những mặt người. Nó trả lại cho tôi sự yên ổn để nhận ra cái nhỏ bé vô hình của chính mình, về sự nhận thức cho sự tồn tại của mình, rằng tôi ở đây, mà tôi cũng chẳng ở đây, tôi thuộc về thế giới này, thế giới sở hữu tôi.

Tôi chẳng bao giờ cho ai câu trả lời chính xác tôi thích nhất cái gì.

Nhưng tôi có thể trả lời tôi hiểu khi nào thì tôi thấy yên bình nhất. Không phải là khi tôi tìm thấy người để yêu, nhà để về hay biết tôi có thể làm được gì, đó là khi tôi nhìn thấy tôi và vị trí của sự tồn tại của tôi, nhìn thấy tôi không thể làm được gì, thấy tôi ở đó và không ở đó, không còn câu hỏi tại sao, không còn câu hỏi thế nào, hay cái gì. Không còn câu hỏi nào cả.

Con Emma, nó mới sinh ra đời đã hiểu việc ấy. Chả trách mà nó rất vui, và nó phải nhảy liếm mặt tất cả mọi người để chia sẻ cho họ cái sự thức tỉnh ấy, dù chẳng mấy ai hiểu.

Advertisements

Bài học từ bệnh viện

Một người thân trong gia đình tôi bị tai nạn. Khi chuyện xảy ra, cả hai vợ chồng tôi đều không hay biết, phải đến ngày tiếp theo khi quá lo lắng và gọi cho bệnh viện, chúng tôi mới biết là người nhà mình đã nằm đó từ đêm hôm trước, trong phòng Hồi sức cấp cứu ngoại – nơi mà người ta vẫn nói 10 người vào chỉ 1 người ra.

Một tuần sau đó là một tuần chúng tôi như ngồi trên lửa. Vì người nhà là người nước ngoài, nên chúng tôi không chỉ phải lo việc ở bệnh viện, còn phải làm thêm các thủ tục với công an giao thông, công an xuất nhập cảnh, đại sứ quán, ngân hàng nước ngoài… Và cũng nhờ thế, tôi mới có thêm được một mớ bài học về pháp lý khi sống và làm việc ở nước ngoài.

Tuy nhiên, quan trọng hơn tất cả những thứ thuộc về giấy tờ đó, tôi đã học được một bài học về con người. Khi gia đình có một người không biết sống chết thế nào nằm trên giường bệnh, tôi mới hiểu đâu là sự bàng hoàng tột độ, sự giận dữ không biết nhắm vào ai, sự tuyệt vọng khi thấy mình hoàn toàn không thể làm gì khác ngoài chờ đợi. Khi ấy tôi mới hiểu tại sao một số gia đình có một người qua đời ở bệnh viện đã phẫn nộ tới mức gây lộn, đập phá. Và khi ấy tôi mới hiểu, tại sao chúng ta phải dịu dàng với các bác sĩ và y tá.

Người nhà của chúng tôi nằm chung phòng bệnh với một người phụ nữ cũng bị chấn thương sọ não. Trên tủ đầu giường của chị, người chồng để hai tấm ảnh nhỏ, chụp chị thời trẻ, xinh đẹp lộng lẫy, ngồi ôm con trên bãi cỏ. Còn chị khi ấy, nằm trên giường, đầu tóc đã bị cạo, đã bắt đầu hé mở mắt nhưng vẫn chưa có phản ứng khi được gọi tên.  Khu Hồi sức cấp cứu rất hạn chế người vào, nên các bệnh nhân thường nằm một mình. Mỗi khi được vào thăm người nhà tôi, tôi cũng dành ít phút thăm nom chị, nói với chị vài câu dù chị chẳng hiểu gì, chỉ vì tôi cảm thấy nếu không làm thế thì chị sẽ cảm thấy rất cô đơn. Tôi nhận ra dù đang rất rối bời và lo lắng cho người thân của mình đang nằm bất tỉnh, chưa rõ sống chết ra sao, nhưng lòng tôi vẫn còn chỗ cho sự quan tâm và cảm thương với một người khác. Hai xúc cảm ấy và những công việc giấy tờ khiến tôi mệt rũ mỗi khi về tới nhà.

Nhưng cũng vì mệt như thế, tôi mới hiểu rằng làm việc trong bệnh viện vất vả như thế nào. Nghề y là một hành trình vất vả, và phần lớn những người chọn nghề nghiệp ấy vì họ muốn cứu người, muốn được làm một công việc có ý nghĩa. Tuy nhiên, sự mệt mỏi khi học nghề chẳng là gì so với sự áp lực khi đã bắt đầu làm việc. Các khu bệnh khác, y tá bác sĩ luôn phải làm việc quá tải. Bệnh nhân, người nhà chen chúc như mắc cửi, bất cứ lúc nào cũng có ai đó hớt hải chạy vào chạy ra, lo sợ, hỏi han. Cơ sở hạ tầng thì nghèo nàn, chật chội… Những người y tá trong khu Cấp cứu Hồi sức gần như không bao giờ được ngơi tay. Các bệnh nhân của họ đều trong trạng thái thập tử nhất sinh, đều được chuyển vào với bộ dạng tuyệt vọng. Các bác sĩ cũng vậy, họ hết xem xét tình trạng của bệnh nhân này, lại phải tiếp chuyện gia đình bệnh nhân khác. Họ không có lịch cụ thể của một ngày, luôn phải sẵn sàng thực hiện phẫu thuật, hay cấp cứu, hay phải thông báo cho ai đó rằng người nhà của họ đã hết hy vọng…

Tôi đã nghe quá nhiều những lời phàn nàn về thái độ lạnh lùng của y tá hay bác sĩ trong bệnh viện. Nhưng suốt một tuần túc trực bên người thân của mình, tôi mới hiểu rằng đôi khi cách duy nhất chúng ta bảo vệ chính mình trong một môi trường như thế là giữ cho đầu mình lạnh. Chúng ta ai cũng là người, ai cũng có thể cảm thương cho người khác khi thấy họ bệnh tật, hoạn nạn, nhưng nếu sự cảm thương đó chất chồng lên trong chúng ta mỗi ngày, thì chính bản thân chúng ta sẽ trở thành bệnh nhân tâm thần. Các bác sỹ và y tá không chỉ phải bảo vệ chính mình khỏi sự suy sụp vì xúc cảm ấy, họ còn phải đối mặt với khối lượng công việc đồ sộ, căng thẳng và một mức lương ít ỏi. Thử hỏi, làm sao để họ có thể giữ bình tĩnh, vui vẻ hay ngọt ngào với bạn?

Thế nên, dù tôi chấp nhận có nhiều tệ nạn đang xảy ra trong ngành Y, dù tôi vẫn ngứa mắt với một số thứ mình thấy, nhưng cùng lúc đó, tôi hiểu rằng tất cả những y tá và bác sĩ mình gặp đều đang là những con người phải hy sinh sức khỏe cả ở thể xác và tinh thần của họ để cứu chữa cho những người khác. Tôi hiểu rằng chúng ta đang đòi hỏi quá nhiều từ họ. Và tôi chọn nở nụ cười với họ, dịu dàng với họ ngay cả khi họ cáu gắt, mời họ một vài món ngon ngay cả khi họ không giúp gì cho chúng tôi, chỉ vì là như thế, là vì nếu tôi có thể thương yêu một bệnh nhân xa lạ, thì tôi cũng có thể thương yêu những người lạnh lùng, gắt gỏng đang cứu chữa cho bệnh nhân ấy. Vì xét cho cùng, chúng ta ai mà chẳng là người?

Nỗi buồn chia cắt

Hôm qua, sau cuộc bầu cử khiến cả thế giới kinh ngạc, tôi phải dành ra cả buổi tối để an ủi chồng, một người không hẳn là ủng hộ cho đảng nào tại Mỹ, nhưng không thể chấp nhận nổi sự thật sẽ có ngày anh phải gọi Trump là tổng thống. Chúng tôi tụ tập cùng mấy người đến từ vùng Trung Tây của Mỹ, vốn là cơ sở của những công ty, tập đoàn lớn, những bang có số phiếu đại cử tri đáng kể, những bang đưa ra kết quả bầu cử cuối cùng. Tất cả các bang đó, trừ Minnesota, đã chọn Trump. Tuy nhiên, tất cả mọi người có mặt quanh bàn đều không chọn Trump, và vì thế, họ phẫn nộ với người cùng bang.

Một cô nói với tôi thật mừng khi họ đang sống ở Việt Nam, họ không phải đối mặt với việc sau ngày bầu cử năm nay, dù cho ai thắng, thì sáng mai họ vẫn phải thức dậy, đi làm, và nhìn vào mắt bạn bè, đồng nghiệp. Họ sẽ không phải đối mặt với việc băn khoăn tự hỏi trong số bạn bè của mình: Kẻ nào đã bầu cho gã tồi tệ đó lên làm Tổng thống? Họ cũng không phải đối mặt với việc phải tranh cãi về định kiến dành cho Hillary. Nói chung, họ không phải đối mặt với bất cứ điều gì trừ nỗi thất vọng ghê gớm dành cho đất nước mình.

Tuy nhiên, chính sự thức nhận ấy, đưa đến cho cô và bạn bè của cô ở Việt Nam một thức nhận khác, sự chia rẽ của người Mỹ chưa bao giờ căng thẳng đến như lần này. Một người bạn khác nói anh tin là thế nào cũng có biểu tình xảy ra ở nhiều bang, cho dù ai là người thắng cuộc. Vì nước Mỹ đã chia cắt hẳn từ đầu. Họ tự nhiên cảm thấy có lỗi với bạn bè mình, những người mà chắc chắn nếu những tuyên bố của Trump thành hiện thực, sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Và họ thấy tiếc cho những ai tin Trump, vì ông ta đã lừa dụ họ vào một tương lai khó thành hiện thực.

Và trong bầu không khí nặng nề đó, tôi nghĩ về nhiều thứ, và một trong số đó là tôi tự hỏi mình: Đã có bao giờ tôi thức dậy mà cảm thấy có lỗi với những người Việt Nam khác hay chưa? Chưa. Đã bao giờ tôi cảm thấy đất nước mình chia rẽ chưa? Có. Tôi nhận thấy khoảng cách khủng khiếp giữa người giàu và người nghèo, sự khác biệt đáng kể trong nhận thức/quan điểm giữa người thành thị và nông thôn, sự khác biệt giữa lý tưởng của đảng và nhu cầu của người dân… Tôi thấy cả sự chia rẽ của tôi-bạn bè tôi, và những người chúng tôi gọi là đám đông còn lại.

Nhưng thật kinh khủng là thế này, tôi chưa bao giờ cảm thấy vui, hay buồn chán, hay giận dữ khi bất kì ai lên ngồi ở bất kì một vị trí nào ở bộ máy nhà nước. Họ hẳn chưa bao giờ cho tôi hy vọng, nhưng cũng chưa bao giờ tôi thấy thất vọng. Và tôi thấy phần đa chúng ta đều vậy. Tức là chúng ta sống ở một đất nước mà người dân không chỉ rất coi thường quyền đi bầu của họ, mà còn quên luôn mất quyền được có xúc cảm với người lãnh đạo của mình, quên luôn xúc cảm với người cùng nước mình.

Và tôi thấy hẳn nhiều người Việt Nam sẽ tự hỏi: Chuyện bên kia đại dương, liên quan gì đến anh chị mà anh chị quan tâm nhiều thế. Chúng ta có một trăm cách giải thích về chuyện tại sao ai là tổng thống Mỹ lại quan trọng với không chỉ dân Mỹ. Tuy nhiên, bỏ qua những thứ giải thích có hể hợp lý hơn khác, tôi nghĩ chúng ta không thể phủ nhận được việc nước Mỹ luôn là đại diện cho một giấc mơ mà ta không có. Họ là thế giới của dân chủ, của tự do, là nơi báo chí được nói gì thì nói, là nơi mà màu da sắc tộc rất đa dạng và ai cũng có quyền mơ ước, là nơi phụ nữ được tôn trọng, là nơi mà dù bạn nghèo, bạn vẫn được cứu chữa trong bệnh viện…

Và rồi Trump, một người đàn ông đã phà ra tất cả những thứ phản lại lý tưởng về nước Mỹ của nhiều người Việt, đắc cử. Họ có thể chả cần biết tại sao Trump thắng, nhưng họ nhận thấy hóa ra người Mỹ có thể vì lý do nào đó mà chấp nhận được một con người như thế làm lãnh đạo. Hóa ra những thứ giá trị mà họ trân trọng ở nước Mỹ không vững vàng đến thế.

Tuy thế, tôi vẫn phải nói rằng, cuộc bầu cử Mỹ cho người Việt Nam rất nhiều cơ hội bàn về chính trị, những thứ mà hàng ngày, họ cứ cho là việc chẳng liên quan đến mình. Nhiều người còn cho rằng chỉ kẻ chém gió mới bàn về chính trị. Họ cứ nghĩ rằng chính trị không ảnh hưởng gì đến bình hoa cắm trên bàn, hay cái bánh họ ăn, hay tình bạn của họ với ai đó. Đáng lẽ, việc bàn luận về chính trị phải là thứ mà người Việt Nam nên làm mỗi ngày, vì họ đang là công dân một nước rất thú vị với một lịch sử chẳng hiểu tại sao lại nhiều chiến tranh đến thế, hết bị người khác đánh thì lại tự đánh nhau. Thật tiếc là họ chỉ được bình luận về chính trị nước khác.

Dòng suy nghĩ miên man của tôi bị cắt, khi P. một người Michigan, kể lại chuyện anh lớn lên ở một gia đình lao động trung lưu ở Mỹ, với mẹ làm y tá, bố làm công nhân. Anh nói gia đình anh chưa bao giờ giàu, nhưng anh có một cuộc sống êm đềm trên một khu phố với bạn bè giống mình. Và anh nghĩ là nước Mỹ là như thế, là thế giới của vài ba người giàu và phần lớn người lao động đủ ăn. Thế rồi anh quyết định làm giáo viên, và anh thực tập tại một trường học nọ cách nhà anh chưa đầy 2 dặm. Trong lớp của anh, có ba học sinh mà bố mẹ chúng là người vô gia cư, nhiều học sinh còn lại đỡ hơn một chút, nhưng cũng có hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Đó là lần đầu tiên anh nhận ra nước Mỹ không chỉ có những người đủ sống như gia đình mình. Và đó cũng là đầu tiên, khi lái xe qua một con đường, anh nhận ra hai bên đường là hai thế giới, một của những người nghèo khó chật vật và mái nhà xơ xác, một của những người no đủ, với những ngôi nhà kiên cố và cánh cửa đóng chặt. Anh nhận ra sự chia rẽ đó, rồi nghĩ rằng ồ việc đó chẳng liên quan đến mình.

Anh, cũng như khá nhiều người Mỹ khác, đã rời đất nước, đến những nơi mà cuộc sống dễ dàng hơn như Việt Nam, để làm chính xác công việc anh đã làm ở Mỹ. Anh bảo sau cuộc bầu cử này, anh mới nhận thấy mình đã nỗ lực trốn tránh phải nhìn vào nước Mỹ ra sao. Nhưng kể cả khi Trump đánh thức anh khỏi giấc mơ lẩn tránh ấy, anh cũng vẫn không đủ dũng cảm để trở về đó và tiếp tục đối mặt với nó nhiều hơn nữa. Chúng ta đều lo cho chính mình như thế, thế thì tại sao phải ngạc nhiên vì người dân Mỹ chọn Trump?

Người nhân viên ở LAX

Gần đây, có một vụ khá ầm ĩ là vụ một cô sinh viên gốc Latin nọ bị giáo sư của mình kết tội đạo văn vô căn cứ, thậm chí còn bị khoanh tròn lên chữ “hence” và phê là: “Đây không phải từ ngữ của bạn”. Theo cô hiểu, vị giáo sư cho rằng với gốc gác Latin như cô, việc có thể thành thạo tiếng Anh và viết ra một bài luận xuất sắc là điều không thể. Thậm chí, việc sử dụng một từ thông thường như “hence” cũng là điều không thể. Việc bị phân biệt, nhất là khi cô ấy học ở một trường đại học tư đắt đỏ, với các bạn học đa số là dân da trắng giàu có, là điều cô ấy hẳn đã phải đối mặt hàng ngày. Dù rất ít liên quan, nhưng chuyện của cô khiến tôi nhớ về một chuyện khác.

Năm ngoái, tôi đến Mỹ tại sân bay Los Angeles. Phần cảng đậu của tôi cũng là phần cảng đậu của nhiều hãng bay châu Á. Thế nên, cảnh tượng đầu tiên mà tôi nhìn sau khi rời khỏi máy bay là hàng nghìn người Trung Quốc xôn xao ồn ào, rồng rắn như trong một cuộc di dân khổng lồ. Sau 30 phút, tôi mới nhận ra là không chỉ có người Trung Quốc, mà còn có người châu Á khác nữa. Người hỗ trợ xếp hàng là người gốc Nhật, nhân viên hải quan xuất nhập cảnh là người Á, chả rõ là gốc Hàn Quốc hay gì. Nhưng dù sao, trong suốt gần một tiếng đứng chờ đóng dấu nhập cảnh, tôi có cảm tưởng như mình đang đứng ở một sân bay châu Á nào đó với đám người láo nháo xung quanh, và ai cũng có chiều cao na ná mình.

Và rồi vì bạn trai tôi chỉ cần đi qua kiosk là được, anh không thể hiểu tại sao tôi mất tới hơn 45 phút mà vẫn chưa qua cửa hải quan, cuống lên đi tìm và cuối cùng lạc mất tôi. Tôi bước ra khỏi khu hải quan, nhìn vào nước Mỹ, và thấy bên cạnh người Trung Quốc, là toàn người gốc Latin. Họ cao lớn, họ bệ vệ đi qua đi lại. Và tự nhiên tôi trở thành một người phụ nữ bé nhỏ lạc vào xứ khổng lồ, cần bảo vệ. Tuy nhiên, vì phải nối chuyến đi Delta Airlines, và giờ bay đã tới, tôi đành mặc kệ bạn trai, cứ thế lao ra xe bus để sang khu của Delta, tin rằng bạn tôi đã ở đó.

Người lái xe bus cũng là một người Latin. Và dù chỉ có năm phút di chuyển giữa hai terminal, anh ta cũng kịp bắt chuyện làm quen với một cô gái đến từ Argentina. Và họ hân hoan nói chuyện như hai người bạn cũ, chỉ có tôi chả biết mô tê gì ngồi im thin thít sau khi trình bày điểm cần xuống.

Khi xe bus thả tôi xuống, tôi nhìn thấy một người nhân viên an ninh của sân bay LAX – một người gốc Latin khác. Anh vừa ngồi xuống nghỉ trên một cái thùng để ở góc tường. Gương mặt anh cho thấy anh có lẽ chưa bao giờ được ngủ đủ. Anh phải to lớn gấp bốn lần tôi, nhưng tôi chỉ thấy anh cần ai đó chăm sóc, cần một cái giường để nghỉ ngơi. Anh nhắc lại hình ảnh của một người cha phải làm việc quá sức để duy trì kế sinh nhai cho gia đình mà tôi vẫn thấy trong vô số bộ phim. Trong đám hỗn độn trước khu Delta Airlines với cơ man chủng tộc người, anh vẫn nhận ra tôi đang hoang mang tìm kiếm ai đó. Và anh ân cần chỉ cho tôi lối lên cửa check in của Delta Airlines, chúc tôi bay an toàn và trở lại với chiếc thùng.

Đó là người đầu tiên tôi thực sự tương tác tại nước Mỹ (trừ vị nhân viên xuất nhập cảnh mặt lạnh như tiền). Ngoái nhìn lại anh, tôi đồng thời cũng thấy gần như tất cả những công việc nặng nhọc tại khu sân bay tôi vừa đi qua đều do người gốc Latin đảm nhận. Họ lừng lững to lớn giữa đám người châu Á thấp bé, im lặng giữa những người Trung Quốc hò hét inh ỏi. Tôi không nhớ nổi có ai trong số họ nở nụ cười, trừ người nhân viên an ninh chỉ cho tôi lối đi. Và hẳn, đó là điều nhắc cho tôi về thân phận con người ở Mỹ và sự nhỏ bé của họ, giống như sự nhỏ bé của tôi, bất chấp sự khác biệt về ngoại hình, trong dòng chảy bất tận ở đất nước vẫn được coi là xứ sở của những ước mơ đó. Điều mà có lẽ, người bạn trai mà sau này là chồng tôi, một người da trắng lên lên trong một gia đình trung lưu khá giả ở Mỹ khó có thể nhận ra.

Các bước để xuất bản một cuốn sách

Vì nhiều người hỏi mình chuyện này. Nên mình viết luôn một cái note cho tiện.
Mình hem phải là chuyên gia, nên mình chỉ viết ra mấy cái này dựa trên kinh nghiệm cá nhân của một người từng làm trong 1 công ty sách và giới thiệu nhà xuất bản cho một vài tác giả nhé. Anh chị em nào làm xuất bản mà thấy thiếu sót gì xin bổ sung thêm.

Trường hợp bạn là tác giả.
Có hai kiểu tác giả.
Tác giả mà là hot blogger, có sẵn tác phẩm đăng ở website/blog/facebook của mình, được dăm bảy nghìn like thì các nhà xuất bản sẽ tự tìm đến. Nghệ thuật câu like không phải sở trường của mình nên mình xin miễn có ý kiến.
Tác giả chưa hot, nhưng tin rằng mình ra sách thì sẽ hot, cần hoàn thành tác phẩm của mình và gửi cho các nhà xuất bản. Trước đây, khi mình còn làm NN, có khá nhiều tác giả gửi các đề cương tác phẩm cho bọn mình và nói: Nếu NXB thấy hay thì em xin viết tiếp. Không nên làm như vậy, trừ trường hợp bạn là người thân thiết với giám đốc NXB. Nếu bạn không thân thiết với ai, thì có nguy cơ cao họ sẽ bỏ qua đề cương của bạn.
Vậy, bước thứ nhất là viết cho xong.
Bước thứ hai, tìm nhà xuất bản phù hợp. Trên thị trường bây giờ có rất nhiều nhà xuất bản tư nhân – hay còn được gọi là các công ty sách. Mỗi NXB lại có một tiêu chí. Bí quyết chọn là gì? Bạn tìm trên giá sách của các hiệu sách một cuốn mà bạn cho rằng gần tương đồng nhất với tác phẩm của mình và liên hệ với công ty sách đó. Công ty này từ chối thì bạn hỏi công ty khác. Nếu bạn gửi chừng 2 tuần mà không thấy họ trả lời thì cũng nên đổi công ty luôn.
Nếu bạn may mắn quen biết với một ai đó trong NXB mà bạn nhắm tới, hãy nhờ vả họ.
Bước thứ ba, nếu công ty sách đã nhận xuất bản sách của bạn, họ sẽ gửi cho bạn một mẫu hợp đồng với các điều khoản cụ thể. Cái này là chuyện tế nhị và chính sách của từng công ty, nên mình không thể tiết lộ cụ thể. Tuy nhiên, bạn đừng sốc khi thấy con số nhuận bút của bạn (được tính theo % bản in và giá bìa) lại chẳng hề cao như bạn mong chờ. Bất cứ một ai từng tự in sách, sau khi vất vả cho sách ra đời, cũng sẽ nhận ra rằng tỉ lệ % đó không có gì là quá bất công (nhưng nhận định này cũng không phải là đúng cho tất cả các trường hợp nhé).
Bước thứ tư, trong trường hợp bạn viết sách cho trẻ em và cần minh họa. Bạn nên đề nghị nhà xuất bản cho tham gia vào phần bàn bạc với họa sĩ. Các họa sĩ cần điều này, bạn cũng cần điều này.
Bước thứ năm, ngồi chờ ngày ra sách và muốn mần chi thì mần.


Trường hợp bạn là dịch giả
Có hai kiểu dịch giả.
Kiểu dịch giả được công ty sách nhờ cậy thì đơn giản, mình cũng không cần bàn đến nữa.
Kiểu dịch giả tự nhiên tìm được một cuốn sách hay, muốn dịch và xuất bản ở Việt Nam.
Bước thứ nhất là bạn nên tìm hiểu sách ấy đã được công ty sách nào in ra chưa, đã bán trên thị trường cho. Google một phút là ra, trong trường hợp sách đã được xuất bản. Nếu sách chưa có ai xuất bản tại Việt Nam, bạn nên tiến hành bước thứ hai.
Bước thứ hai, giới thiệu nó đến một nhà xuất bản. Nhà xuất bản làm sách dịch ở Việt Nam có Nhã Nam, Trẻ, Thái Hà, Alpha Book… Tùy theo thể loại sách của bạn, bạn nên tự chọn lấy nhà sách phù hợp. Nếu công ty sách ưng bụng sách bạn giới thiệu, họ sẽ tìm mua bản quyền, biên tập lại bản dịch của bạn và cho ra sách.
Tuy nhiên, sẽ luôn có một khả năng, dù nhỏ – là dù họ rất ưng cuốn sách bạn giới thiệu, nhưng họ không ưng bản dịch của bạn. Đừng coi đó là vấn đề cá nhân, dù nó rất cá nhân. Điều ấy có nghĩa là bạn cần cố gắng hơn nữa trong việc dịch sách. Giỏi ngoại ngữ không phải là tất cả.
Bước thứ hai – trong trường hợp bạn muốn tự in sách: Bạn phải mua bản quyền. Bạn có thể tìm ra agency của tác giả bằng cách google hoặc gửi mail qua website chính thức của họ. Chuyện mua bản quyền khó hay dễ tùy thuộc vào từng trường hợp. Nhưng nếu bạn muốn mua bản quyền sách của một tác giả nổi tiếng, popular, đương đại thì khả năng bạn tự mua được bản quyền rất thấp.
Tại sao? Hầu hết các tác giả lớn trên thế giới đều do một agency lớn quản lý. Các agency lớn đó lại có các agency trung gian theo khu vực. Trong trường hợp của Việt Nam, nhiều agency lớn làm việc thông qua một agency trung gian ở Thái Lan, có tên là Tuttle-Mori, và Tuttle-Mori sẽ thích làm việc với các công ty sách hơn với bạn. Các agency cũng thường giữ mối quan hệ với các cty sách tại Việt Nam bằng cách ưu tiên giới thiệu các tác giả lớn và best-seller cho họ. Đặc biệt, nếu bạn muốn mua bản quyền sách của một tác giả lớn đã có sách bán tại Việt Nam, thì agency luôn hỏi ý kiến NXB đã in sách của họ trước xem NXB ấy có muốn mua bản quyền cuốn đó không. Nếu NXB nói Không, họ mới để ý đến bạn. Và các NXB ít khi nói Không lắm.
Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là bạn không có cơ hội. Cứ thử. Vì tác giả không quá popular, thì cơ hội vẫn nằm trong tay bạn.
Và cũng vẫn có một khả năng là dù bản quyền có thể vào tay bạn, nhưng tác giả không ưng bản dịch của bạn. He he.
Bước thứ ba: Xin giấy phép. Bạn cần liên hệ với một NXB Nhà nước để xin liên kết xuất bản, hay dân gian vẫn gọi là mua giấy phép. Họ cần một bản thảo của bạn để nộp lên cục xuất bản, nếu cục cho phép bạn (và NXB) xuất bản sách, bạn sẽ có giấy phép để đi in sách.

Bước thứ tư: Chọn nhà in, và in sáchThực sự thì cái này mình không rành. Để mình hỏi thăm các bạn khác rồi bổ sung chi tiết nhé.
NOTE: Các bạn muốn hỏi gì cụ thể hơn thì comment trong Facebook của mình: https://www.facebook.com/notes/huy%C3%AAn-ph%C6%B0%C6%A1ng-l%C3%AA/c%C3%A1c-b%C6%B0%E1%BB%9Bc-%C4%91%E1%BB%83-xu%E1%BA%A5t-b%E1%BA%A3n-m%E1%BB%99t-cu%E1%BB%91n-s%C3%A1ch/10153800156611702

%d bloggers like this: