Nghèo và ngốc

Cách đây hai năm, tôi cưới chồng, sau đám cưới, có vô số người hỏi tôi: “Ủa, sao đang vui tự nhiên lấy chồng?”, như thể tôi cưới chồng là chính thức bỏ cuộc chơi thật. Xong rồi họ lại vẫn thấy tôi y như cũ, những gì tôi muốn làm thì tôi làm. Đám cưới của tôi nhỏ gọn, chỉ diễn ra trong một buổi chiều, với chừng hơn 30 khách, chủ yếu là gia đình, bạn bè của chồng, nhóm bạn thân thiết nhất của tôi và những người tôi yêu quý. Hoa mua chiều hôm trước, bình hoa là chai bia cũ, cỗ kiểu gia đình. Vợ chồng tôi thuê một căn villa, vừa có chỗ cho bạn bè, ở, vừa có sân sau để làm đám cưới.

Đám cưới đó không phải đám cưới như bố mẹ tôi mong muốn, không có nhà hàng rồi rót rượu phun khói, rồi cô dâu chú rể đi quanh chúc rượu. Chủ hôn là bạn tôi, áo cưới của bạn tôi, nhẫn cưới là chiếc nhẫn vintage mẹ chồng cho tôi, bạn tôi chụp hình dùm tôi, sau lễ ngắn gọn thì a lô xô ai thích ăn thì ăn, bơi thì bơi, nhảy thì nhảy. Mẹ tôi, người cầu toàn, thậm chí còn muốn ngăn cản không cho bố tôi phát biểu.

Sau đám cưới, khi cô gái xinh đẹp chụp ảnh cho đám cưới của tôi up ảnh lên Facebook của cô ấy, một người bạn của tôi, cũng sắp lấy chồng, nói: “Ước gì em cũng làm được đám cưới như chị, muốn là lại sợ bố mẹ buồn”. Tôi chỉ đáp: “Bố mẹ chị buồn vì chị mãi rồi, giờ thêm chuyện này nữa thì cũng không khác mấy”.

Tôi nghĩ chuyện tôi có chồng thay đổi đáng kể mối quan hệ của tôi và bố mẹ, theo hướng tích cực. Khi còn độc thân, tôi không muốn dành nhiều thời gian cho bố mẹ. Lý do trực tiếp là tôi muốn đi nơi này nơi kia khi chân còn khỏe, lý do sâu xa là vì những lần về thăm gia đình của tôi thường kết thúc rất tồi tệ. Khi lấy chồng rồi, tôi dành nhiều kỳ nghỉ với bố mẹ, và những kỳ nghỉ đó phần lớn là kết thúc vui vẻ. Một phần vì mẹ tôi kiềm chế hơn khi có mặt chồng tôi, một phần vì tôi cũng biết dung hòa hơn. Cả hai bên cùng lùi lại, vì chồng tôi, và cũng vì bên kia lùi lại.

Tôi không thể phủ nhận là việc chứng kiến hôn nhân của bố mẹ khiến tôi gần như từng tin cách tốt nhất để có hạnh phúc chính là sống một mình. Cùng lúc đó, chính vì trải nghiệm phải làm con trong cuộc hôn nhân đó khiến tôi có hai xu hướng cực đoan, quan tâm quá đà với người tôi cho là hiểu mình, xua đuổi những người muốn gắn bó với mình. Tôi nghĩ những người hẹn hò với tôi tùy ở từng giai đoạn mà cảm thấy hoặc ngột ngạt, hoặc bất an, hoặc giận dữ với tôi.

Khi tôi cưới chồng tôi, bạn tôi cho rằng chúng tôi quá chênh lệch, không phải vì tôi gầy như mắm và chồng tôi mũm mĩm như panda, mà vì tôi là người có vẻ “sâu sắc”, suy nghĩ lắm, còn chồng tôi thì thật đơn giản, cả ngày chỉ thích nói về ăn. Một cô bạn của chồng tôi, nhắn tin cho người khác, rồi nhắn lộn cho tôi, bảo chồng tôi đúng là gã khờ vớ được vợ ngon. Bạn bố mẹ tôi, ngược lại, cho rằng tôi quá ăn may, nhìn như que củi mà lấy được chồng Mỹ.

Tôi thấy đúng là chúng tôi may mắn, nhưng sự may mắn đó san đều ở cả hai phía. Tôi chẳng thể nói hộ chồng mình, nhưng từ phía tôi, tôi nghĩ điều quan trọng nhất là khi gặp anh, tôi tìm được cảm giác mà tất cả những người trước đó không thể mang lại: gia đình.

Chồng tôi, lớn lên trong một gia đình có bố mẹ ly dị, rồi trải qua tuổi mới lớn với một người mẹ kế không có kinh nghiệm nuôi dạy trẻ mới lớn, vô cùng nhạy cảm, dễ tổn thương, thiếu kiên nhẫn trong một số mặt. Nhưng cùng lúc đó, anh đã đi nhiều, tiếp xúc với đủ môi trường văn hóa để bao dung, vững chãi. Vì lớn lên cùng với bất an, chúng tôi đều coi trọng việc được “một mình”. Không ai trong chúng tôi thắc mắc tại sao người kia cần đi ra ngoài mà không rủ mình, tại sao họ muốn đi đến một nơi nào khác mà không có mình. Chúng tôi quý trọng thời gian “cô độc” ngang bằng thời gian chia sẻ cùng nhau.

Nhưng quan trọng hơn hết, chúng tôi cùng trân trọng sự “nghèo”. Chồng tôi sau khi lang thang khắp thế giới, đã hiểu được tầm quan trọng của việc không sở hữu gì. Còn tôi, càng sống với thế giới phù phiếm, tôi càng tin niềm vui thực sự đến từ việc không có gì cả. Tôi không có danh tiếng, không có vị trí, không có tiền, không có nhà, không có những vật dụng đắt đỏ, cả sách tôi cũng dần cho đi hết. Trước khi lấy chồng, tôi sống trong căn nhà trọ nhỏ như tổ hobbit, với đồ đạc đủ cho một người. Giờ đây, khi sống ở Mỹ, chúng tôi cũng chỉ toàn dùng đồ người ta bỏ đi, mặc quần áo cũ, không có xe, không có phương tiện giải trí nào trong nhà, sách đi lượm. Đến cả con Emma cũng sống cuộc đời của một con chó nghèo, đồ chơi đi nhặt và được cắt tóc tại nhà.

Bản chất của gia đình, có lẽ đến từ đó, từ việc chẳng cần gì cũng vui, chẳng cần phải chứng minh điều gì, cũng chẳng cần phải có ai ca tụng, không cần cố gắng cũng đáp ứng được mong muốn của người còn lại. Bạn tôi bảo từ ngày lấy chồng tôi tươi hẳn ra. Tôi nghĩ không phải thế, tôi nghĩ tôi tươi hẳn ra, vì tôi ngừng mong muốn ở bản thân, và tôi tìm ra được niềm vui từ sự nhàm chán. Trước đây, khi còn độc thân, tôi vui kiểu độc thân, giờ có gia đình, tôi vui kiểu có gia đình. Tôi may mắn, vì tôi đã tìm ra người chia sẻ sự nhàm chán đó mình. Nhưng, quả thật tôi vẫn nghĩ, nếu không may kiểu đó, thì tôi cũng may kiểu khác. Điều quan trọng là tôi vừa lòng với cái nghèo và ngốc.

Advertisements

Tự răn

Dạo này tôi bị bài đè đúng nghĩa đen, nhưng cái tính hóng hớt của tôi vẫn đủ để tôi theo dõi các vụ tranh cãi. Và tôi thấy rùng mình. Nhân tiện có bài tập, tôi tự thảo ra đây cái gọi là 11 hướng dẫn khi tranh luận để không bị coi là ngớ ngẩn trên mạng xã hội. Tôi gọi ai đó ở đây là “bạn”, nhưng thực ra tôi chỉ đang nhắc chính mình. Nếu bạn cảm thấy bạn có chia sẻ ít nhiều, thì bắt tay, chúng ta là bạn nhé.

  1. Nhớ rằng một phát ngôn không phải là một con người

Đúng là phát ngôn nói lên nhiều thứ về một con người, nhưng một phát ngôn thì không đại diện cho toàn bộ con người đó. Anh phóng viên có thể vội vã phỉ báng làn da cô hoa hậu, cái đó nói lên phần nào quan điểm của anh về nữ giới và dân tộc, nhưng không có nghĩa anh hoàn toàn là kẻ cặn bã, bỏ đi.

  1. Quan điểm khác không biến người kia thành kẻ thù của bạn

Quan điểm khác nhau chính là phép màu của xã hội, khi sự đa dạng trong cách tiếp cận cho chúng ta sự đa dạng về giá trị và giải pháp. Bạn không đồng ý với quan điểm của họ, không có nghĩa bạn tồi tệ hay họ tồi tệ, bạn chỉ khác họ. Anh A có thể phản đối vụ ký vào lá đơn của gia đình bé Linh, nhưng điều đó không nói lên anh A là kẻ máu lạnh, bênh cho cái ác. Anh A vẫn yêu thương mọi người và tin vào chuyện cái ác phải bị trừng phạt, anh chỉ tin vào một cách trừng phạt/giải pháp khác.

  1. Muốn thuyết phục, phải có lý lẽ

Cái này rõ như ban ngày rồi. Nếu muốn chứng minh chân dung vua Quang Trung là chân thực, bạn cần đưa ra các tài liệu. Muốn chứng minh Hồ Ngọc Hà gây tổn hại đến giới trẻ, bạn cần có các thống kê. Bạn áp dụng cảm xúc chủ quan “Theo tôi thấy…” cũng không sao, nhưng sau đó cần giải thích.

Và vì những cái ở trên nên…

  1. Tranh luận quan điểm khác với xúc phạm cá nhân

Khi tranh cãi với ai đó vì họ khác bạn, chỉ tập trung vào quan điểm của họ. Việc của bạn rốt cuộc là thuyết phục người đó và những người xung quanh rằng quan điểm của bạn hợp lý hơn. Bạn xúc phạm cá nhân, chỉ cho thấy bạn không có khả năng lý lẽ nào để tranh luận.

  1. Tập trung vào quan điểm, bỏ các yếu tố không liên quan

Cái này rất nhiều người gặp phải. “Tưởng là phóng viên thì…”, “Học đến chừng này…” “Ăn tiền của ai phải không?” “Là người Việt Nam mà…”… Những yếu tố này chẳng chứng minh cho ai là bạn đúng hay người kia dở. Dùng đến chúng như vũ khí chỉ cho thấy sự tự ti và định kiến của bạn mà thôi.

  1. Từ ngữ chọn lọc…

Cách dùng từ có thể không thể hiện trình độ học vấn hay con người bạn, nhưng những từ ngữ tục tĩu, lỗ mãng, sỉ nhục chỉ biến cuộc tranh luận vào ngõ cụt. Nó cho thấy khả năng kiểm soát cảm xúc của bạn tương đối kém, biến bạn thành thấp hơn trong vị thế trong luận với người còn lại.

Để làm tốt những cái này, nên hiểu

  1. Thế nào là khẩu nghiệp…

Cái từ khóa khẩu nghiệp này có vẻ là một vũ khí khá thịnh hành. Khi thấy ai đó có vẻ đang làm tổn thương ai đó, ta gọi đó là khẩu nghiệp. Thế nhưng, việc bạn phản đối và mạt sát người đó để bênh cho người bị tổn thương, cũng là khẩu nghiệp. Cầu nguyện cho người làm tổn thương người khác gặp tai ương, cũng là khẩu nghiệp. Cách không tạo khẩu nghiệp là đừng nói gì, nhưng còn có cách tốt hơn là dùng ngôn ngữ để hàn gắn.

  1. Đạo đức rất quan trọng, nhưng không phải cái gì cũng là đạo đức

Niềm tin của bạn, điều bạn cho là quan trọng, điều bạn cho là không được xâm phạm, điều bạn cho là giá trị cơ bản của một con người tốt, không áp dụng cho tất cả mọi người. Trên đời này không chỉ có Tốt đơn nhất. Trong cái tốt, có cái tốt A, tốt B, tốt C. Bạn cho rằng phụ nữ phải sinh con, vì đó là thiên chức của tạo hóa, không sinh con là ích kỷ. Người khác cho rằng loài người không nên đẻ thêm vì lợi ích của môi trường. Bạn cho rằng con cái không được cãi cha mẹ vì đó là bất hiếu. Người khác cho rằng tranh cãi giữa con cái với bố mẹ là thể hiện của một gia đình cởi mở. Tất cả đều đúng tùy vào nhiều thứ.

  1. Có đáng hay không?

Trước hết, bạn muốn biết bạn đồng ý/không đồng ý với quan điểm đó. Rồi sau đó, bạn muốn biết tại sao bạn đồng ý/không đồng ý. Rồi sau đó nữa, bạn tự hỏi vấn đề này có gây tổn hại tới bạn/người thân/cộng đồng hay không? Có rất  nhiều cái bạn không đồng ý, nhưng nó có đáng cho bạn tranh luận hay không lại là chuyện khác.

  1. Cái bạn không tin, vẫn có thể xảy ra

Vì thế giới này đa dạng hơn bạn tưởng. Bạn cho rằng một người mẹ sẽ không bán con vào ổ mại dâm? Thế mà vẫn có đó. Bạn không chấp nhận rằng một người bỏ mặc cha mẹ vẫn có thể là người tốt? Đó là vì bạn không tính đến những gì đã xảy ra giữa họ và bố mẹ. Nếu một phụ nữ bị mẹ bán vào ổ mại dâm, thì cô ấy sau này có được quyền bỏ mặc mẹ không?

  1. Nếu bạn chọn

Làm người thích chửi tục, mạt sát, sỉ nhục người khác khi tranh luận thì đó cũng là quyền của bạn. Chỉ có điều, bạn sẽ thấy rằng rốt cuộc bạn làm thế, vì cái niềm vui được hạ người khác xuống thấp hơn bạn, được chứng minh bạn đúng, được hưởng chút niềm hỉ hả tự tin, được xả sự giận dữ. Cái này, cũng như thuốc phiện, chỉ khiến bạn lâng lâng vài phút, vài giờ. Tranh luận có văn hóa là cánh cửa mở ra cơ hội học hỏi. Nếu bạn không thích học hỏi cũng không sao, vì luôn luôn có những người giống bạn.

 

Chờ trong im lặng

Hôm nọ, khi vụ phanh phui Harvey Weinstein nổ ra, tôi tự hỏi: “Tại sao phụ nữ chọn im lặng khi bị quấy rối, tấn công tình dục, kể cả khi kẻ quấy rối, tấn công họ không có quyền lực gì?” Rồi tôi đọc một loạt nghiên cứu về vấn đề này, rồi quanh đi quẩn lại, kết luận tôi thấy là nạn nhân của xâm hại tình dục sợ miệng đời còn hơn cả sợ kẻ tấn công họ.

Một tuần trước khi rời Việt Nam, tôi ngồi coi một bộ phim tài liệu trên Netflix có tên là Audrie & Daisy. Audrie dự một bữa tiệc, uống rượu và thiếp đi, bị mấy thằng bạn cùng trường lột đồ sờ soạng, chụp ảnh lại và đưa lên internet. Cả trường bắt đầu nhắn tin sỉ nhục, nhạo báng cô bé, chia sẻ những tấm ảnh đó khắp nơi. Và một vài ngày sau đó, cô bé tự sát.

Daisy, 14 tuổi, cùng một cô bạn bí mật đến dự một bữa tiệc với mấy gã bạn chung đội bóng của anh trai, và ở đó, cô bé và bạn mình bị chuốc rượu. Daisy được tìm thấy trong tình trạng quần áo xộc xệch, gần chết cóng giữa băng tuyết trước cửa nhà, và sau đó, ở bệnh viện, được phát hiện là đã bị cưỡng hiếp.

Tuy nhiên, vụ án của cô bé rơi vào ngõ cụt, những kẻ cưỡng hiếp cô phủ nhận, nói rằng đó là quan hệ đồng thuận. Điều đáng kể, chúng là con cháu của những gia đình được trọng vọng, là những vận động viên nổi tiếng của trường, “có thể ngủ với bất kì cô gái nào, tại sao phải cưỡng hiếp Daisy?”. Vụ xét xử diễn ra, tòa không tìm ra đủ bằng chứng cô bé bị cưỡng hiếp. Chúng chỉ bị kết tội vì đã chở cô bé về nhà rồi quăng cô bé trước cửa giữa trời đông băng giá. Những ngày sau đó, cả cộng đồng sỉ nhục, tấn công, gọi Daisy và gia đình cô là dối trá, bọn thèm muốn danh tiếng, gọi Daisy là điếm, là nỗi nhục của cộng đồng. Và đỉnh điểm, họ đốt nhà cô bé, buộc cả gia đình phải chuyển về thành phố cũ, nơi họ đã rời bỏ để quên đi nỗi đau mất cha vài năm trước. Daisy rơi vào trầm cảm và toan tự sát nhiều lần, không chỉ vì bị cưỡng hiếp, mà còn bị cả cộng đồng sỉ nhục, vì nỗi đau khổ khi vì cô mà cả gia đình chịu khổ.

Bộ phim tài liệu này kéo tôi ra khỏi mối quan tâm lớn nhất của tôi lúc ấy – mạng xã hội và thực phẩm organic – sang một vấn đề khác: Cyberbullying. Nói chung, bộ phim giúp mắt tôi mở to hơn về chuyện ứng xử khi một nạn nhân của quấy rối tình dục/cưỡng hiếp lên tiếng. Có thể nhiều người, dù họ có học thức tới đâu, sẽ khó mà nhận ra rằng phản ứng gần như tức thì của họ khi nghe một phụ nữ than phiền về chuyện bị quấy rối là sự trách mắng: Sao lại ăn mặc như thế? Sao lại đi vào chỗ ấy? Sao lại uống rượu? Sao lại cả tin? Sao lại tự đẩy mình vào tình huống ấy? Ngu thì chết!

Hoặc, như với những người trong câu chuyện của Daisy, đàng điếm cho lắm rồi lại đổ tội cho đàn ông.

Sang Mỹ rồi, đọc nhiều nghiên cứu rồi, tôi mới thấy rằng hóa ra con người ở đâu cũng như nhau cả. Dù thế nào đi nữa, dù ở đâu đi nữa, nạn nhân của tấn công tình dục cũng dễ trở thành người bị chỉ trích đầu tiên. Và quần chúng thường tin lời của kẻ tấn công hơn là lời của nạn nhân. Bởi vì sao? Bởi nỗi sợ hãi không muốn chấp nhận những điều khủng khiếp “Làm gì có chuyện ấy trên đời!”, bởi thói quen đổ tội cho nạn nhân “Cô tự rước vào mình rồi kêu cái gì nữa!”, bởi vì nhiều khi không đủ chứng cứ để tòa kết tội kẻ cưỡng hiếp, bởi vì nhiều khi nạn nhân không dám lên tiếng sau nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều năm sau… khi mọi chứng cứ đã mất.

Và khi không có đủ chứng cứ để chứng minh, thì nghĩa là cô ấy nói dối, nghĩa là cô ấy cần danh tiếng, nghĩa là cô ấy muốn được lên báo lên đài. Dưới bất cứ một câu chuyện do nạn nhân xâm hại tình dục nào chia sẻ, cũng có những bình luận kiểu như vậy, và nhiều bình luận kiểu như vậy, dù Tây hay ta.

Và rồi khi quan sát những điều ấy, tôi lại tự hỏi: “Nếu với phụ nữ đã khó khăn như vậy, thì với nạn nhân là đàn ông, việc kể ra câu chuyện của họ còn khó khăn đến thế nào?”.

Cách đây không lâu, chủ biên một trang thông tin mạng, share lên Facebook của câu ấy một bài báo về một người đàn ông bị tấn công và cưỡng hiếp với caption có bao gồm hai chữ “buồn cười”. Trong phần comment, bạn bè cậu vào cười góp. Tôi vào, comment: “Tại sao lại buồn cười vậy em? Vì đây là fake news?” Cậu không trả lời tôi, chỉ “like” comment của tôi. Tôi thực sự hy vọng cậu ấy buồn cười vì cho đó là fake news – dù chuyện đó cũng chẳng đáng buồn cười – chứ không phải vì chuyện một người đàn ông bị cưỡng hiếp.

Bởi vì mọi chuyện đều có vẻ buồn cười và khó tin, cho đến khi nó xảy ra với bạn – hoặc người thân của bạn.

Gần đây, tờ báo tôi từng gắn bó bốn năm, có một video phỏng vấn hai nạn nhân bị xâm hại tình dục, một trong số họ kể lại câu chuyện của một cô bé bị bố xâm hại, rồi sau đó còn nhắn tin cảm ơn con. Dù không còn làm việc cho tờ báo đó, nhưng vì vẫn trò chuyện thường xuyên với các bạn biên tập, nên tôi được update câu chuyện liên tục. Và tôi biết họ có đủ thông tin, cơ sở để khẳng định câu chuyện đó có thật. Tuy nhiên, khi video kia được một vài trang mạng dẫn lại, sau đi đã cắt đi phần lớn những chia sẻ của hai nạn nhân bị xâm hại về nỗi đau của họ, chỉ tập trung vào đúng câu chuyện về cô bé và người bố kia, hàng nghìn người đã nổi trận lôi đình. Họ phân tích câu chuyện kể, và họ cho rằng thiếu logic dối trá. Và họ, đương nhiên, cho rằng mình có lương tri, phẫn nộ chỉ trích cả tờ báo, lẫn người kể chuyện. Họ dẫn ra những người chứng minh người kể ra chuyện ấy là kẻ chuyên nói dối, hám danh vọng. Những người quyết đi tìm đến tận cùng sự thật, lập tức đi tìm danh tính cô bé. Và cộng đồng nơi cô bé kia kể ra câu chuyện, đã làm điều đúng đắn nhất trong tình huống ấy, họ giúp cô bé giấu đi danh tính, chặn những người muốn đào bới thêm, và cho cô bé khoảng riêng để suy nghĩ xem mình nên làm gì.

Tôi có giận tờ báo và người đã kể ra chuyện đó không? Có! Một trong những nguyên tắc quan trọng mà tôi học được từ sớm, là khi có ai đó ở độ tuổi được pháp luật xếp vào nhóm có thể đồng thuận, kể cho bạn nghe câu chuyện họ bị xâm hại, việc của bạn là bày tỏ lòng tin, sự ủng hộ của bạn dành cho họ. Nhưng, việc kể ra câu chuyện đó cho bất kì ai, dù là với cảnh sát, là quyền của họ. Đó không phải việc của bạn.

Nhưng, chính nhờ đã xem Audrie & Daisy, tôi hiểu rằng sẽ chẳng có ích gì nếu tôi gào lên rằng: “Bực mình à nha!” vào lúc ấy. Bởi vì ít người bực mình việc ấy, những người đang nổi giận kia, họ đang cho rằng tất cả là bịa đặt, họ đang cho rằng tờ báo và người kể chuyện kể chuyện khiêu dâm câu view. Họ có quyền nghi ngờ, tất nhiên rồi. Nhưng khi còn đang nghi ngờ, họ đã sỉ nhục, tấn công, trích dẫn những nguồn thông tin chẳng cần kiểm chứng. Giữa một bên là đám đông hỗn loạn nhân danh đạo đức, và một bên là những nạn nhân của xâm hại tình dục, tôi chọn ủng hộ nạn nhân.

Cho đến một ngày, một người bạn của tôi, vào Facebook tôi, chất vấn rằng tại sao tôi lại im lặng, tôi có sẵn lòng ủng hộ sự dối trá cho mục đích tốt đẹp? Thực ra tôi cho rằng mình hiểu người bạn ấy, anh cũng như nhiều người khác, nghi ngờ câu chuyện vì anh là người tốt, là người muốn đặt sự sáng suốt lên trên cảm tính thông thường. Chỉ có điều, anh không biết rằng ngay từ đầu, tôi chưa bao giờ nghi ngờ câu chuyện kia cả. Bởi vì tôi có thông tin, bởi như tôi nói, “mọi chuyện đều có vẻ buồn cười và khó tin, cho đến khi nó xảy ra với bạn”.

Nhưng cũng kì lạ thay, người ta chọn tin những lời kể xấu về người khác thay vì câu chuyện ấy. “Vì nghe có vẻ đáng tin hơn!”. Và họ cho mình quyền sỉ nhục một người họ cho là đáng nghi. Như thể người ta có thể giết chết một thanh niên lạ mặt vào làng, chỉ vì cho rằng anh ta ăn trộm chó.

Thế nên, tôi nghĩ mình nên viết ra blog này, chỉ để trong sự ồn ào đã và sẽ đến với bất cứ nạn nhân của xâm hại tình dục nào kể ra câu chuyện của họ, tôi mong họ biết rằng sẽ luôn có người tin họ. Kể ra câu chuyện ấy là một hành động dũng cảm. Việc bạn là nạn nhân không phải lỗi của bạn, dù sẽ có hàng nghìn người cố chứng minh cho bạn thấy bạn có lỗi. Khi bạn kể ra câu chuyện ấy, sẽ luôn có người tìm cách chứng minh với cả thế giới rằng bạn đang nói dối, bạn đang tìm kiếm danh tiếng. Và sẽ luôn có người tin vào những lời suy đoán ấy, và sẽ luôn có một nhóm người chỉ trích bạn. Có những người sỉ nhục bạn, chỉ vì họ cũng có nỗi uất ức riêng chẳng biết trút vào đâu. Những người đó sẽ luôn ở đó. Nhưng những người tin bạn, ủng hộ bạn, sẽ cùng bạn tìm lại sức mạnh của mình cũng ở đó.

Và tôi cũng mong tất cả những ai đang mau tay gõ những lời chỉ trích một ai đó khi họ kể ra câu chuyện họ bị xâm hại hãy tự hỏi mình: Bạn có cần phải làm việc đó không? Bạn cảm thấy chuyện ấy rất khó tin, bạn mong rằng họ phải khóc lóc, run rẩy khi kể. Bạn không chấp nhận ai đó có thể bình thản mà kể lại những chuyện đáng sợ như vậy. Nhưng bạn cũng nên hiểu rằng, để có được sự bình thản bên ngoài ấy, một nạn nhân có thể đã phải qua hàng triệu giây phút đớn đau, tự nhiếc móc bản thân, hoài nghi về sự tồn tại của họ. Mọi chuyện đều có vẻ khó tin, cho đến khi nó xảy ra với bạn.

Và tôi xin gửi tới tất cả các bạn tôi, những người cho rằng tôi giả vờ, hoặc tôi quá ngây thơ khi tin vào mọi câu chuyện người này người kia bị xâm hại tình dục: Tôi thà chọn làm người ngây thơ, còn hơn làm một người cay nghiệt.

Gần đây, tôi xem loạt phim Shetland, cũng trên Netflix, trong đó có một nữ thanh tra đã bị một gã luật sư muốn đổi đời làm trùm mafia đánh bẫy, bị bắt cóc và cưỡng hiếp. Cô tìm mọi cách để đổ lỗi cho bản thân, vì cô là một cảnh sát mà lại để bị dắt mũi và tự đẩy mình vào nguy hiểm. Khi cảm thấy không ai xung quanh có thể chia sẻ với mình nỗi đau khổ ấy, cô gọi cho hotline dành cho nạn nhân bị cưỡng hiếp, và không thể cất nên lời khi bên kia nhấc máy. Người ở đầu dây kia nói: “Tôi vẫn giữ máy ở đây, bạn không cần vội, hãy cứ hít thở và kể cho tôi nghe khi bạn đã sẵn sàng!”.

Tôi lặng người khi xem đoạn phim ấy. Vì tôi cảm thấy, ước gì, ước gì, ước gì tất cả chúng ta được học về điều ấy, học về nỗi đau đớn không thể thốt nên lời của một nạn nhân. Và để chúng ta có thể nghi ngờ, chúng ta có thể không hiểu họ, nhưng đủ kiên nhẫn để chờ họ nói, trong im lặng.

Hai năm dồn lại

Năm ngoái, chẳng hiểu tại sao tôi chẳng có nhu cầu viết gì cho một năm. Năm nay, tôi viết luôn cho hai năm vậy.

Hai năm qua, tôi đã trải qua nhiều điều quan trọng của một đời người: Lấy chồng, mua đất, rồi đột nhiên được học bổng, thế là chuyển tới nước khác, và trong nhà có thêm một con chó.

Tuy nhiên, có một điều đáng nói trước hết tất cả những điều ấy, đó là chuyện ông nội tôi mất. Khác với ông ngoại, người đã ốm đau bệnh tật liên miên, ở bệnh viện nhiều hơn ở nhà, ông nội tôi – dù đã bị liệt chân nhiều năm – đang khỏe mạnh, buổi tối còn ăn cơm gấp quần áo, bỗng nhiên gục xuống rồi chẳng bao giờ tỉnh lại nữa. “Cứ như trong sự sống đã có sẵn cái chết” – khi ngồi trên máy bay để về nhà, tôi nghĩ tới điều ấy. Ông tôi thọ 91 tuổi, cuộc đời trải qua một cuộc cách mạng, hai cuộc chiến, một thời hòa bình – một cuộc đời có thể nói là đáng kể, dù ông chẳng bao giờ kể. Ông sống trong sự nghèo khổ triền miên đến nỗi tôi có cảm giác ông cho rằng ấm no và yên ổn là chuyện không thể xảy ra. Cả đời, tôi chưa từng thấy ông nổi giận, cũng chẳng thấy ông mấy khi được thoải mái tận hưởng niềm vui. Đến cả việc mua một cái bánh để ăn, ông cũng rón rén, giấu diếm sợ người khác biết. Vì sự hỗn loạn của gia đình tôi kèm theo tính cách hiền lành, run rẩy ấy, ông cũng khốn khổ đủ đường. Những năm vui vẻ nhất cuộc đời ông, có thể là những năm cuối đời, khi ông đã trở nên lẫn lộn giữa hư và thực. Ông ở trong căn phòng riêng, hát hò hớn hở. Mọi sự lục đục, la lối vốn luôn làm ông co rúm, vào lúc ấy chẳng còn tác dụng gì nữa.

Tôi vẫn nhớ những lúc chạy trốn khỏi những cơn say của mẹ, tôi cũng có lúc chạy tới tìm ông. Mẹ tôi luôn tìm tới đó đầu tiên, và rồi chẳng phải mình tôi mà cả ông cũng trở thành mục tiêu tấn công. Ông mỗi lần đối mặt với chuyện ấy lại hớt hải, lẩy bẩy. Về sau, tôi không làm thế nữa, tôi chọn những nơi mà mẹ tôi chẳng thể tìm ra. Chính vì thế, tôi chưa bao giờ nghĩ về ông như một phần của mái ấm gia đình. Trái lại, tôi luôn nghĩ về ông như một nạn nhân của mọi thứ, của đói nghèo, chiến tranh, mất đi cơ hội được học hành, vợ mất sớm, nạn nhân gián tiếp của bạo lực gia đình, chịu sự bỏ bê của con cái, đến tận những ngày cuối đời vẫn không được yên ổn hoàn toàn. Tôi nghĩ cuộc đời ông có quá nhiều điều đáng buồn như thế, hẳn cái chết là một cái kết có hậu. Và bởi ông hiền lành, nhân hậu như thế, nên ông được miễn khỏi những đau đớn thể xác trước khi qua đời.

Ông mất sau ngày cưới của tôi không lâu, chồng tôi vì thế, phải học một loạt điều mới về văn hóa Việt Nam. Sự khác biệt giữa chúng tôi chỉ lộ ra khi những sự kiện lớn như vậy xảy ra. Còn lại, chúng tôi, dẫu hai quốc tịch, sống ở hai bên bán cầu, chẳng gặp phải khó khăn gì. Chuyện chúng tôi cưới nhau gần như đã được quyết định chỉ sau một tháng hẹn hò. Vì chẳng hiểu tại sao, chúng tôi hợp với nhau đủ thứ từ chuyện ham đi chơi, thích ở một mình, thích xem và đọc những thứ tương tự, cho tới chuyện ăn ở lộn xộn. Chỉ trong hơn hai năm, chúng tôi đi từ Đông sang Tây, từ Nam đến Bắc quả địa cầu. Nhờ có anh, cuộc sống của tôi ở Mỹ rất thong dong, chuyện roadtrip trong mơ của bao người tự nhiên trở nên quá dễ dàng đối với tôi. Chúng tôi có thể nằm ườn cả tuần trong nhà, rồi đột nhiên quyết định đi. Vậy là cả người, cả chó và vali chất lên xe, và đi. Đi về, chúng tôi lại nằm ườn ra như cũ.

Tuy vậy, sự dễ dàng khi sống chung với một người Mỹ không đồng nghĩa với việc tôi hòa nhập được ngay với cuộc sống ở đây. Khi tới đây, tôi mới nhận ra mình nói tiếng Anh kém như thế nào. Dù không gặp phải khó khăn gì trong việc ổn định nhà cửa, cũng chẳng gặp khó khăn gì trong việc nghe giảng, hay đọc tài liệu, tôi cảm thấy vô cùng vất vả với việc trình bày quan điểm hay tranh luận trong lớp. Không phải vì tôi không có gì để nói, mà việc nói ở trong lớp ở đây giống một cuộc chiến, ai cũng phải tranh nhau để nói. Vì thế, nói cho thật nhanh, thật rõ, thật gãy gọn, thật hấp dẫn trở thành một sức ép lớn.

Tuy nhiên, nhờ vậy, tôi thấy được văn hóa học đường của nước Mỹ. Một giáo sư của tôi nói rằng: Em đừng đặt áp lực quá lớn lên mình, em đang học bằng ngôn ngữ khác trong một ngành học rất nặng về ngôn ngữ, như thế đã là một thành công rồi. Một giáo sư khác lại nói: Đương nhiên là bạn sẽ phải đọc nhiều hơn các bạn khác, vì nhiều điều với họ vốn đã là kiến thức phổ thông thì với bạn lại là một điều mới toanh cần học, điều ấy bình thường thôi, cố gắng một chút là được. Một giáo sư khác nữa lại nói: Em đừng lo vì em chưa đọc những thứ này, vì châu Á cũng là thứ chúng ta sẽ phải học đến nhiều. Một giáo sư nữa thì nói: Áp lực với em sẽ nhiều hơn áp lực với các sinh viên khác, nhưng các giáo sư sẽ chẳng vì thế mà đối xử với em ưu ái hơn, em chỉ cần nhớ, nếu cảm thấy quá tải, thì luôn có người lắng nghe, và luôn có cách để tìm sự trợ giúp.

Tức là thay vì gào lên: Sao có mỗi những chuyện đó mà cũng không hiểu? Thì họ dành ra cả 20 phút chỉ để an ủi rằng dốt nát là một vấn đề toàn cầu và ai cũng dốt. Chê bai là chuyện hoàn toàn không được chấp nhận, và nếu ai đó nói với bạn rằng bài của bạn chưa được tốt lắm, thì tốt nhất bạn nên ngồi xuống và tự hỏi: Tôi có nên đi học nữa không.  Sau mỗi buổi nói chuyện đầy tình thương mến thương ấy, tôi lại được nhận được những chú thích cần đọc thêm, nghe thêm, xem thêm, sửa lại lần sau nhiều hơn lần trước. Tức là càng học, tôi càng thấy mình dốt nát thảm họa. Đến nỗi tôi cảm thấy dù thế nào đi nữa, tôi sẽ rời khỏi khóa học này với một sự tự ti gấp 10 lần trước trước khi tôi bước vào nó. Tuy nhiên, chẳng hiểu nhờ phép thần kỳ nào mà tôi vẫn xong được một kỳ học, ngoảnh lại thấy tài liệu mình đã đọc qua chất cao quá đầu, và sự dốt thì vẫn hoàn dốt cũng vẫn ở đó.

Dẫu vậy, trong cơn bàng hoàng phải đọc, đọc và đọc thật nhiều để có thể hiểu về văn hóa, nghệ thuật, chính trị nước Mỹ, tôi vẫn có thời gian để nói chuyện với người Mỹ. Thế rôi dần dần, tôi nhận ra rồi ở đâu cũng như ở đâu, con người về cơ bản có từng ấy mối lo, có từng ấy mong ước, có từng ấy chờ đợi. Họ chỉ mong được bình yên hạnh phúc.

Tôi đến với đất nước này trong một giai đoạn tương đối đặc biệt. Nhiều lần tôi được hỏi: “Cô nghĩ gì về tổng thống mới của chúng tôi?”. Tôi, sau quá nhiều lần chứng kiến tranh cãi giữa hai bên ủng hộ và phản đối Trump, đã tìm ra được một cách trả lời khéo léo: “Từ phương diện communication mà nói, tôi nghĩ ông ấy là một trường hợp chính trị gia đặc biệt!”. Thế nhưng, không phải lúc nào người nói chuyện với tôi cũng hài lòng với câu trả lời ấy. Ở đây, việc không có chính kiến xem ra là một điều đáng trách. Cô bé học cùng lớp với tôi, quá trẻ và quá hăng hái, bảo tôi rằng: “Mày không thể trả lời kiểu ấy được. Mày biết đó, không ai đạt tới một trình độ học vấn nhất định mà lại không phản đối Trump cả!”. Chỉ câu nói ấy thôi, thế là lại có thêm một cuộc tranh luận nảy lửa mới.

Mỗi lần chứng kiến những điều ấy, tôi lại có cảm giác mà hàng nghìn người Việt Nam đi sang nước khác chắc cũng đã có: Sự ngơ ngác khi nhận ra mình không có những thói quen của họ. Tôi ước gì được nhìn thấy sinh viên ở Việt Nam tranh luận về chính trị, tham gia thảo luận về luật và giải pháp xã hội mỗi ngày như thế. Tôi cũng ước gì bố mẹ tôi, có thể sống thoải mái về mặt tinh thần như những người già ở đây. Mỗi buổi chiều, khi thấy bà cụ hàng xóm ra ban công ngồi hút thuốc, tôi lại ước gì mẹ mình cũng tự tin hút thuốc, chẳng phải lén lút vì sợ người khác đánh giá như vậy. Thế nhưng, cùng lúc ấy, tôi nhận ra rằng khi sống hoàn toàn trong xã hội phương Tây, tôi lại nhớ về châu Á và những thói quen đáng yêu của họ. Và quả thật, tôi thấy buồn, vì trong cơn bão của toàn cầu hóa dữ dội, những thói quen ấy dần đang mất đi, vì chúng ta tưởng rằng phương Tây mới là chuẩn mực của mọi thứ.

Tuy nhiên, chẳng có gì quá quan trọng. Thật đấy, vì Đông hay Tây rồi cũng kết thúc như khủng long cả. Tôi ngày càng không còn tin là loài người sẽ có kết cục tươi sáng gì, dù họ đang cố gắng ra sao. Mỗi lần bước vào siêu thị, hay mỗi lần nhìn những dòng xe chen chúc, hay nhìn những sân bay hỗn loạn, tôi chỉ có một cảm giác choáng ngợp về sự đông đúc của loài người, về số lượng tài nguyên phải phục vụ họ. Hay mỗi lần ngồi trên xe đi xuyên các cánh đồng ở Hà Lan hay Mỹ, tôi lại thêm tuyệt vọng vào sự phát triển quá lớn của nền công nghiệp nông nghiệp. Nói chung, chẳng có gì có thể cứu vãn nổi. Nhưng tệ nhất là khi loài người đi tới diệt vong, họ còn phải kéo theo nhiều loài vật khác.

Thế là đột nhiên, tôi cảm thấy mất nhuệ khí, rồi lại cũng đột nhiên, tôi thấy mình có thêm động lực để phải học, phải làm. Hai cảm giác ấy cứ chao đảo qua lại với tôi từng ngày. Thế nhưng, trong quá trình chao đảo ấy, trong hai năm qua, tôi vẫn bay nhiều đến nỗi không đếm nổi số chuyến, đến nỗi một phần mềm nói rằng ai cũng sống như tôi thì cần một quả đất rưỡi mới đủ phục vụ. Thế nên, bạn có biết tôi ước gì cho năm mới không? Tôi chỉ ước mình không phải bay đi đâu nữa.

Về đi bộ, hay là về tôi

Hôm qua bạn tôi hỏi, ở Mỹ thích nhất cái gì?

Người ta thường hay hỏi nhau những câu phải có tính phân loại như vậy. Trong tất cả các món ăn Việt Nam, em thích nhất món nào? Thích nhất bài thơ nào của ai? Thích làm gì nhất? Thích ai nhất trong nhà? Mà không phải hỏi người khác, người ta còn phải hỏi chính mình câu ấy? Rốt cuộc thì khi nào ta từng hạnh phúc nhất? Nơi nào mình muốn quay lại nhất. Tóm lại, trong chính tâm trí của chúng ta đã không có chỗ cho sự bình đẳng.

Nhưng thôi, quay lại câu chuyện nước Mỹ.

Tôi cố gắng mỗi tuần, dù bận rộn với bài vở hay loay hoay với việc thích nghi với việc quay lại làm sinh viên nghèo tới đâu, đều phải dắt con Emma – cô bé cún của vợ chồng tôi – đi dạo. Sở thích của tôi ngày càng đơn giản và giống Henry Thoreau: Đi bộ. Ngay cạnh nhà tôi là đường trail xanh ngắt, thiên đường của bọn sóc, và bọn chó, và bọn người. Thoạt đầu, tôi thấy phiền phức với sự thân thiện rất bộ tịch của người Mỹ. Dù ai đang là gì, hùng hục đạp xe, hăm hở chạy, nhở nha đi bộ… họ đều phải Hi how are you! với một người lạ hoắc họ gặp trên con trail ấy. Con Emma, một giống chó được tạo ra để sống với loài người, thì thân thiện còn hơn mức ấy (và không hề bộ tịch). Nó phải nhảy lên mặt người ta, phải ôm ấp, phải liếm người ta mấy chục nhát, phải ngoáy cái đuôi đã bị cắt cụt lủn từ lúc mới sinh ra đời dăm trăm lần để thể hiện sự phấn khích, nếu ai quan tâm tới nó quá, nò còn phải tè ra một bãi đền đáp.

Con Emma tất nhiên không hiểu được cái lạc thú của việc không chào ai, cũng không nhảy lên người ai của tôi. Khi rảo bước cạnh nó, tôi lại tự hỏi rốt cuộc cuối cùng cái gì ở lại với tôi nhiều nhất sau những chuyến đi? Đó không phải là việc được nhìn thấy cái này hay cái khác, ăn món này hay món kia, được ở khách sạn năm sao hay phòng ngủ tập thể. Đó có thể là những giây phút vui vẻ tôi có với bạn bè mình, với gia đình mình. Nhưng nhiều hơn thế, đó là việc rảo bộ.

Dù ở châu Âu hay châu Á hay châu Mỹ, dù thời tiết nóng bức hay lanh giá, tôi vẫn thích nhất là việc được đi bộ một mình. Và dù đi với ai tới nơi nào, tôi vẫn tranh thủ để được đi bộ một mình đôi chút. Tôi vẫn tự hỏi, cái gì khiến việc đi bộ khiến tôi thích thú tới thế. Nhiều khi, để thấy hạnh phúc, tôi nhắm mắt và hình dung lại những cuộc đi bộ ấy, nhìn lại đường phố Hong Kong hối hả xôn xao với những chiếc xe bus hai tầng vùn vụt chạy tới lui, tàu điện ngầm đều đặn ở Singapore, nghe lại tiếng lá khô trong cánh rừng ven biển Busan, những hàng rào bìm bìm ở Đà Lạt, những cây dừa ven biển Đà Nẵng, những quán kebab ồn ào chật chội ở Istanbul, những con hải âu ngủ gật trên mấy ụ neo thuyền ở Amsterdam, những cột xương rồng ngạo nghễ ở Arizona, những bức tường đá xinh đẹp ở Alnwick… Tôi cứ nghĩ mình càng đi nhiều, càng có chuyện để kể, nhưng hóa ra cái đọng lại nhiều nhất trong tôi lại chỉ là những mảnh ký ức không tương tác ấy.

Việc đi bộ một mình dần trở nên quan trọng tới mức, nếu tôi tới nơi nào mà không có cơ hội làm việc đó, tôi lại có cảm giác là mình chưa thực sự tới đó.

Tôi nghĩ có thể việc đi bộ một mình ấy là một thứ đặc ân hiếm hoi của cuộc đời tôi. Từ khi tôi còn trẻ hơn với vô vàn câu hỏi, khi tôi còn chật vật chiến đấu với chính mình để hiểu ra tại sao tôi phải sống sót và về sau, với công việc quay cuồng, với sự chán nản nhìn vào loài người và bàng hoàng nhận ra mình là một trong số họ, đi bộ là cách để tôi tách ra khỏi chính tôi. Đi bộ một mình khiến tôi thấy mình thu bé lại, chính tôi có thể quan sát thấy tôi len lỏi giữa những cái cây, những cột điện, những mặt người. Nó trả lại cho tôi sự yên ổn để nhận ra cái nhỏ bé vô hình của chính mình, về sự nhận thức cho sự tồn tại của mình, rằng tôi ở đây, mà tôi cũng chẳng ở đây, tôi thuộc về thế giới này, thế giới sở hữu tôi.

Tôi chẳng bao giờ cho ai câu trả lời chính xác tôi thích nhất cái gì.

Nhưng tôi có thể trả lời tôi hiểu khi nào thì tôi thấy yên bình nhất. Không phải là khi tôi tìm thấy người để yêu, nhà để về hay biết tôi có thể làm được gì, đó là khi tôi nhìn thấy tôi và vị trí của sự tồn tại của tôi, nhìn thấy tôi không thể làm được gì, thấy tôi ở đó và không ở đó, không còn câu hỏi tại sao, không còn câu hỏi thế nào, hay cái gì. Không còn câu hỏi nào cả.

Con Emma, nó mới sinh ra đời đã hiểu việc ấy. Chả trách mà nó rất vui, và nó phải nhảy liếm mặt tất cả mọi người để chia sẻ cho họ cái sự thức tỉnh ấy, dù chẳng mấy ai hiểu.

Bài học từ bệnh viện

Một người thân trong gia đình tôi bị tai nạn. Khi chuyện xảy ra, cả hai vợ chồng tôi đều không hay biết, phải đến ngày tiếp theo khi quá lo lắng và gọi cho bệnh viện, chúng tôi mới biết là người nhà mình đã nằm đó từ đêm hôm trước, trong phòng Hồi sức cấp cứu ngoại – nơi mà người ta vẫn nói 10 người vào chỉ 1 người ra.

Một tuần sau đó là một tuần chúng tôi như ngồi trên lửa. Vì người nhà là người nước ngoài, nên chúng tôi không chỉ phải lo việc ở bệnh viện, còn phải làm thêm các thủ tục với công an giao thông, công an xuất nhập cảnh, đại sứ quán, ngân hàng nước ngoài… Và cũng nhờ thế, tôi mới có thêm được một mớ bài học về pháp lý khi sống và làm việc ở nước ngoài.

Tuy nhiên, quan trọng hơn tất cả những thứ thuộc về giấy tờ đó, tôi đã học được một bài học về con người. Khi gia đình có một người không biết sống chết thế nào nằm trên giường bệnh, tôi mới hiểu đâu là sự bàng hoàng tột độ, sự giận dữ không biết nhắm vào ai, sự tuyệt vọng khi thấy mình hoàn toàn không thể làm gì khác ngoài chờ đợi. Khi ấy tôi mới hiểu tại sao một số gia đình có một người qua đời ở bệnh viện đã phẫn nộ tới mức gây lộn, đập phá. Và khi ấy tôi mới hiểu, tại sao chúng ta phải dịu dàng với các bác sĩ và y tá.

Người nhà của chúng tôi nằm chung phòng bệnh với một người phụ nữ cũng bị chấn thương sọ não. Trên tủ đầu giường của chị, người chồng để hai tấm ảnh nhỏ, chụp chị thời trẻ, xinh đẹp lộng lẫy, ngồi ôm con trên bãi cỏ. Còn chị khi ấy, nằm trên giường, đầu tóc đã bị cạo, đã bắt đầu hé mở mắt nhưng vẫn chưa có phản ứng khi được gọi tên.  Khu Hồi sức cấp cứu rất hạn chế người vào, nên các bệnh nhân thường nằm một mình. Mỗi khi được vào thăm người nhà tôi, tôi cũng dành ít phút thăm nom chị, nói với chị vài câu dù chị chẳng hiểu gì, chỉ vì tôi cảm thấy nếu không làm thế thì chị sẽ cảm thấy rất cô đơn. Tôi nhận ra dù đang rất rối bời và lo lắng cho người thân của mình đang nằm bất tỉnh, chưa rõ sống chết ra sao, nhưng lòng tôi vẫn còn chỗ cho sự quan tâm và cảm thương với một người khác. Hai xúc cảm ấy và những công việc giấy tờ khiến tôi mệt rũ mỗi khi về tới nhà.

Nhưng cũng vì mệt như thế, tôi mới hiểu rằng làm việc trong bệnh viện vất vả như thế nào. Nghề y là một hành trình vất vả, và phần lớn những người chọn nghề nghiệp ấy vì họ muốn cứu người, muốn được làm một công việc có ý nghĩa. Tuy nhiên, sự mệt mỏi khi học nghề chẳng là gì so với sự áp lực khi đã bắt đầu làm việc. Các khu bệnh khác, y tá bác sĩ luôn phải làm việc quá tải. Bệnh nhân, người nhà chen chúc như mắc cửi, bất cứ lúc nào cũng có ai đó hớt hải chạy vào chạy ra, lo sợ, hỏi han. Cơ sở hạ tầng thì nghèo nàn, chật chội… Những người y tá trong khu Cấp cứu Hồi sức gần như không bao giờ được ngơi tay. Các bệnh nhân của họ đều trong trạng thái thập tử nhất sinh, đều được chuyển vào với bộ dạng tuyệt vọng. Các bác sĩ cũng vậy, họ hết xem xét tình trạng của bệnh nhân này, lại phải tiếp chuyện gia đình bệnh nhân khác. Họ không có lịch cụ thể của một ngày, luôn phải sẵn sàng thực hiện phẫu thuật, hay cấp cứu, hay phải thông báo cho ai đó rằng người nhà của họ đã hết hy vọng…

Tôi đã nghe quá nhiều những lời phàn nàn về thái độ lạnh lùng của y tá hay bác sĩ trong bệnh viện. Nhưng suốt một tuần túc trực bên người thân của mình, tôi mới hiểu rằng đôi khi cách duy nhất chúng ta bảo vệ chính mình trong một môi trường như thế là giữ cho đầu mình lạnh. Chúng ta ai cũng là người, ai cũng có thể cảm thương cho người khác khi thấy họ bệnh tật, hoạn nạn, nhưng nếu sự cảm thương đó chất chồng lên trong chúng ta mỗi ngày, thì chính bản thân chúng ta sẽ trở thành bệnh nhân tâm thần. Các bác sỹ và y tá không chỉ phải bảo vệ chính mình khỏi sự suy sụp vì xúc cảm ấy, họ còn phải đối mặt với khối lượng công việc đồ sộ, căng thẳng và một mức lương ít ỏi. Thử hỏi, làm sao để họ có thể giữ bình tĩnh, vui vẻ hay ngọt ngào với bạn?

Thế nên, dù tôi chấp nhận có nhiều tệ nạn đang xảy ra trong ngành Y, dù tôi vẫn ngứa mắt với một số thứ mình thấy, nhưng cùng lúc đó, tôi hiểu rằng tất cả những y tá và bác sĩ mình gặp đều đang là những con người phải hy sinh sức khỏe cả ở thể xác và tinh thần của họ để cứu chữa cho những người khác. Tôi hiểu rằng chúng ta đang đòi hỏi quá nhiều từ họ. Và tôi chọn nở nụ cười với họ, dịu dàng với họ ngay cả khi họ cáu gắt, mời họ một vài món ngon ngay cả khi họ không giúp gì cho chúng tôi, chỉ vì là như thế, là vì nếu tôi có thể thương yêu một bệnh nhân xa lạ, thì tôi cũng có thể thương yêu những người lạnh lùng, gắt gỏng đang cứu chữa cho bệnh nhân ấy. Vì xét cho cùng, chúng ta ai mà chẳng là người?

Nỗi buồn chia cắt

Hôm qua, sau cuộc bầu cử khiến cả thế giới kinh ngạc, tôi phải dành ra cả buổi tối để an ủi chồng, một người không hẳn là ủng hộ cho đảng nào tại Mỹ, nhưng không thể chấp nhận nổi sự thật sẽ có ngày anh phải gọi Trump là tổng thống. Chúng tôi tụ tập cùng mấy người đến từ vùng Trung Tây của Mỹ, vốn là cơ sở của những công ty, tập đoàn lớn, những bang có số phiếu đại cử tri đáng kể, những bang đưa ra kết quả bầu cử cuối cùng. Tất cả các bang đó, trừ Minnesota, đã chọn Trump. Tuy nhiên, tất cả mọi người có mặt quanh bàn đều không chọn Trump, và vì thế, họ phẫn nộ với người cùng bang.

Một cô nói với tôi thật mừng khi họ đang sống ở Việt Nam, họ không phải đối mặt với việc sau ngày bầu cử năm nay, dù cho ai thắng, thì sáng mai họ vẫn phải thức dậy, đi làm, và nhìn vào mắt bạn bè, đồng nghiệp. Họ sẽ không phải đối mặt với việc băn khoăn tự hỏi trong số bạn bè của mình: Kẻ nào đã bầu cho gã tồi tệ đó lên làm Tổng thống? Họ cũng không phải đối mặt với việc phải tranh cãi về định kiến dành cho Hillary. Nói chung, họ không phải đối mặt với bất cứ điều gì trừ nỗi thất vọng ghê gớm dành cho đất nước mình.

Tuy nhiên, chính sự thức nhận ấy, đưa đến cho cô và bạn bè của cô ở Việt Nam một thức nhận khác, sự chia rẽ của người Mỹ chưa bao giờ căng thẳng đến như lần này. Một người bạn khác nói anh tin là thế nào cũng có biểu tình xảy ra ở nhiều bang, cho dù ai là người thắng cuộc. Vì nước Mỹ đã chia cắt hẳn từ đầu. Họ tự nhiên cảm thấy có lỗi với bạn bè mình, những người mà chắc chắn nếu những tuyên bố của Trump thành hiện thực, sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Và họ thấy tiếc cho những ai tin Trump, vì ông ta đã lừa dụ họ vào một tương lai khó thành hiện thực.

Và trong bầu không khí nặng nề đó, tôi nghĩ về nhiều thứ, và một trong số đó là tôi tự hỏi mình: Đã có bao giờ tôi thức dậy mà cảm thấy có lỗi với những người Việt Nam khác hay chưa? Chưa. Đã bao giờ tôi cảm thấy đất nước mình chia rẽ chưa? Có. Tôi nhận thấy khoảng cách khủng khiếp giữa người giàu và người nghèo, sự khác biệt đáng kể trong nhận thức/quan điểm giữa người thành thị và nông thôn, sự khác biệt giữa lý tưởng của đảng và nhu cầu của người dân… Tôi thấy cả sự chia rẽ của tôi-bạn bè tôi, và những người chúng tôi gọi là đám đông còn lại.

Nhưng thật kinh khủng là thế này, tôi chưa bao giờ cảm thấy vui, hay buồn chán, hay giận dữ khi bất kì ai lên ngồi ở bất kì một vị trí nào ở bộ máy nhà nước. Họ hẳn chưa bao giờ cho tôi hy vọng, nhưng cũng chưa bao giờ tôi thấy thất vọng. Và tôi thấy phần đa chúng ta đều vậy. Tức là chúng ta sống ở một đất nước mà người dân không chỉ rất coi thường quyền đi bầu của họ, mà còn quên luôn mất quyền được có xúc cảm với người lãnh đạo của mình, quên luôn xúc cảm với người cùng nước mình.

Và tôi thấy hẳn nhiều người Việt Nam sẽ tự hỏi: Chuyện bên kia đại dương, liên quan gì đến anh chị mà anh chị quan tâm nhiều thế. Chúng ta có một trăm cách giải thích về chuyện tại sao ai là tổng thống Mỹ lại quan trọng với không chỉ dân Mỹ. Tuy nhiên, bỏ qua những thứ giải thích có hể hợp lý hơn khác, tôi nghĩ chúng ta không thể phủ nhận được việc nước Mỹ luôn là đại diện cho một giấc mơ mà ta không có. Họ là thế giới của dân chủ, của tự do, là nơi báo chí được nói gì thì nói, là nơi mà màu da sắc tộc rất đa dạng và ai cũng có quyền mơ ước, là nơi phụ nữ được tôn trọng, là nơi mà dù bạn nghèo, bạn vẫn được cứu chữa trong bệnh viện…

Và rồi Trump, một người đàn ông đã phà ra tất cả những thứ phản lại lý tưởng về nước Mỹ của nhiều người Việt, đắc cử. Họ có thể chả cần biết tại sao Trump thắng, nhưng họ nhận thấy hóa ra người Mỹ có thể vì lý do nào đó mà chấp nhận được một con người như thế làm lãnh đạo. Hóa ra những thứ giá trị mà họ trân trọng ở nước Mỹ không vững vàng đến thế.

Tuy thế, tôi vẫn phải nói rằng, cuộc bầu cử Mỹ cho người Việt Nam rất nhiều cơ hội bàn về chính trị, những thứ mà hàng ngày, họ cứ cho là việc chẳng liên quan đến mình. Nhiều người còn cho rằng chỉ kẻ chém gió mới bàn về chính trị. Họ cứ nghĩ rằng chính trị không ảnh hưởng gì đến bình hoa cắm trên bàn, hay cái bánh họ ăn, hay tình bạn của họ với ai đó. Đáng lẽ, việc bàn luận về chính trị phải là thứ mà người Việt Nam nên làm mỗi ngày, vì họ đang là công dân một nước rất thú vị với một lịch sử chẳng hiểu tại sao lại nhiều chiến tranh đến thế, hết bị người khác đánh thì lại tự đánh nhau. Thật tiếc là họ chỉ được bình luận về chính trị nước khác.

Dòng suy nghĩ miên man của tôi bị cắt, khi P. một người Michigan, kể lại chuyện anh lớn lên ở một gia đình lao động trung lưu ở Mỹ, với mẹ làm y tá, bố làm công nhân. Anh nói gia đình anh chưa bao giờ giàu, nhưng anh có một cuộc sống êm đềm trên một khu phố với bạn bè giống mình. Và anh nghĩ là nước Mỹ là như thế, là thế giới của vài ba người giàu và phần lớn người lao động đủ ăn. Thế rồi anh quyết định làm giáo viên, và anh thực tập tại một trường học nọ cách nhà anh chưa đầy 2 dặm. Trong lớp của anh, có ba học sinh mà bố mẹ chúng là người vô gia cư, nhiều học sinh còn lại đỡ hơn một chút, nhưng cũng có hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Đó là lần đầu tiên anh nhận ra nước Mỹ không chỉ có những người đủ sống như gia đình mình. Và đó cũng là đầu tiên, khi lái xe qua một con đường, anh nhận ra hai bên đường là hai thế giới, một của những người nghèo khó chật vật và mái nhà xơ xác, một của những người no đủ, với những ngôi nhà kiên cố và cánh cửa đóng chặt. Anh nhận ra sự chia rẽ đó, rồi nghĩ rằng ồ việc đó chẳng liên quan đến mình.

Anh, cũng như khá nhiều người Mỹ khác, đã rời đất nước, đến những nơi mà cuộc sống dễ dàng hơn như Việt Nam, để làm chính xác công việc anh đã làm ở Mỹ. Anh bảo sau cuộc bầu cử này, anh mới nhận thấy mình đã nỗ lực trốn tránh phải nhìn vào nước Mỹ ra sao. Nhưng kể cả khi Trump đánh thức anh khỏi giấc mơ lẩn tránh ấy, anh cũng vẫn không đủ dũng cảm để trở về đó và tiếp tục đối mặt với nó nhiều hơn nữa. Chúng ta đều lo cho chính mình như thế, thế thì tại sao phải ngạc nhiên vì người dân Mỹ chọn Trump?