Ngôi sao chết rồi mới sáng

(Nhan đề phụ: Hay rảnh rỗi quá ngồi dịch càn)

Hôm nay tôi tình cờ đọc được bài này trong khi ngồi chờ người khác làm việc rồi mới có việc để làm, rỗi rãi nên dịch cho vui vậy. Bài gốc là ở đây: The Posthumous Star.

Phần dịch dưới này mới khoảng độ 2/5 bài báo. Có thời gian thì tôi sẽ dịch tiếp, không thì thôi :D. Các bạn báo mạng dạo này đang lôi cả cụ Dương Tường ra đập, thiết nghĩ việc dịch quá nhục, nhưng vẫn thích, he he. Trong bài dịch này có một số chỗ ngôn ngữ hơi bắng nhắng, là tôi tự thêm tình thái vào thôi.

Ngôi sao chết rồi mới sáng

– Jessa Crispin (MMdịch)

Chúng ta đều đã biết câu chuyện này: Van Gogh chết khi chỉ mới bán được một bức tranh duy nhất trong suốt cuộc đời mình. Ông là một thiên tài điên rồ – kiểu mà chúng ta khoái – cắt đứt tai mình rồi đưa nó cho một gái điếm. Tiếp đó, bi kịch thay, ông đã tự tử, có thể là vì tuyệt vọng trước thái độ ghẻ lạnh đối với tác phẩm của mình, vì thế ông không bao giờ biết được thế giới đã tung hô mình ra sao.

Chúng ta biết tới câu chuyện này bởi vì sau khi qua đời trong nỗi không ai biết tới, ông đã nhanh chóng trở thành họa sĩ được tôn vinh rầm rĩ. Ở Philadelphia, tôi đã tận mắt thấy, Bảo tàng Nghệ thuật hiện đang tổ chức một cuộc triển lãm về Van Gogh, và họ đã cho dựng một cửa hàng bán đồ lưu niệm Van Gogh ngay cạnh. Ở đó bạn có thể mua được áo phông Starry Night. Cốc uống cà phê Starry Night. Nam châm Starry Night. Poster Starry Night giá rẻ. Starry Night trên ô. Nghĩa là, tại sao phải tốn tận 25USD mua vé vào xem triển lãm trong khi bạn có thể bước vào cửa hàng lưu niệm và mua một sản phẩm Van Gogh cho riêng mình với giá 8,99USD?

Vậy chính xác điều gì đã xảy ra trong khoảng cách giữa vô danh và lừng danh? Chuyện sau khi chết của các nghệ sỹ thật là tráo trở. Một vài nhà văn ăn khách đã bị quên đi luôn sau khi họ chết chỉ vài giây; vài người khác không được đánh giá cao cho tới tận mấy thập kỷ sau. Nhiều nghệ sỹ và nhà văn đã trở thành chủ thể của những chiến dịch nhằm khẳng định lại vị thế của họ trong giới. Một số đã thành công, nhưng hầu hết lại rơi vào lãng quên cho tới khi có ai khác khơi lại chuyện vào 10 năm sau. Chỉ riêng trong vài năm vừa qua, người ta đã bỏ công bỏ sức để khẳng định lại tên tuổi cho Stefan Zweig, Irmgard Keun, W. Somerset Maugham, Mina Loy, H.D., Heinrich Böll… nhưng chẳng có chiếc đóm nào đủ châm lên một đống lửa lớn.

Thật là bất ngờ khi biết dù hiện tại là một tên tuổi lừng lẫy, nhưng Henry James cũng từng là chủ thể của một chiến dịch như vậy. Ngày hôm nay, ông đã là Bậc Thầy. Ông là nguồn gốc nỗi kinh hãi của sinh viên các lớp Ngữ văn Anh nâng cao [nguyên văn: AP English, chưa biết dịch chính xác là gì] ở mọi nơi, với danh sách tác phẩm giáo trình yêu cầu đọc, các cuốn tiểu thuyết dày 600 trang mà tất cả những gì xảy ra trong đó chỉ là việc một người phụ nữ bước ngang phòng. Ấy vậy mà vào giai đoạn cuối đời, sách của ông lại không bán được nhiều lắm. Edith Wharton đã phải dúi tiền túi của mình cho nhà xuất bản để họ ứng trước cho ông, ông bị coi là một nhà văn chẳng có gì đáng chú ý. Và sau khi ông chết, các cuốn sách của ông gần như cháy hàng ở Anh, chỉ còn bán ở Mỹ ở dạng tổng tập đắt đỏ. Nếu bạn muốn có một cuốn sách của Henry James, bạn phải mua tất cả – và ông cụ đã viết nhiều phát khiếp. Chuyện ấy kéo dài nhiều thập kỷ, cho tới giai đoạn hồi phục hậu chiến tranh thế giới thứ 2.

Hết phần tôi đã dịch, đoạn tiếp theo tiếng Anh là như vầy. :))

In his book Monopolizing the Master: Henry James and the Politics of Modern Literary Scholarship, Michael Anesko details this lull time in James’s afterlife. Problems arise immediately following the death of a genius. As uncomfortable as the juxtaposition of the corporeal and the eternal can be — the artist so often gets in the way of his own work, as James did when he decided in his old age to revise and “improve” his earlier novels — when the work is unleashed from the human form, things can get even more confused. The artist might not always know what to do with her or his own output, but less likely to know is the artist’s descendants. Often it’s the disappointing son or brother or friend left in charge of the great artist’s legacy, and so very, very often, they screw it up.

Because the descendant sees the corporeal before they see the divine. The estate of Henry James was left in the hands of his sister-in-law and nephew, although Wharton schemed hard to dominate. The worry, of Wharton and others in James’s social circle, was that the estate would be “botched” by the descendants, and in Anesko’s telling they were “suspicious of the Jameses’ provincial limitations.” Henry left in charge Alice and Harry James, the wife and son of his brother William. William rather notoriously did not “get” his brother’s writing, thinking it overly verbose, overly poetic, overly just about everything. And here they were, supposed to be guiding the great writer’s landing into literary history. The Jameses first order of business was essentially to restrict any access to Henry’s estate, particularly any of the letters that might have shown him to be a snob, a bore, or sexually confused. They locked up everything and kept his private life a secret for decades. That effort took a much greater priority for the family than, say, making sure people could find and buy and read James’s books. Perhaps they thought his image would be easier to control if no one knew who he was.

The problem with leaving a family member in charge of an estate is, of course, that they know you primarily in human form. Whether or not you created works of unparalleled genius, you still sat across from them in the morning with your hair a mess, slurping oatmeal. They want the world to think well of you, to remember you as airbrushed and always well put together, not dribbling oatmeal down the front of your nightgown. And that protective quality leads to some shocking behavior, like the time the Lord Byron’s inner circle decided to burn the only copy of his memoir after his death. Almost none of those behind the burning had bothered to read it; they just assumed it would be shocking and embarrassing and would ruin his reputation. According to Doris Langley Moore’s examination of the creation of the legend of the Romantic poet, The Late Lord Byron, they feared that Byron had for some reason revealed to the whole world that he had slept with and impregnated his own sister. Everyone panicked, and the literary world is poorer for that decision.

These actions have consequences. The Jameses were so worried that readers of Henry’s letters might construe that he had been gay — “I have been so taken up with living in the future and in the idea of answering you with impassioned lips… I can with utter ease procure myself to be transported. I shall come…” he wrote to Arthur Benson — and refused to address his sexuality at all, so that everyone now just assumes that he was gay. In Byron’s case, by refusing to allow Byron himself to tell the story of his life, everyone who hated him, held a grudge, or had a story to tell was suddenly able to rewrite his biography, flooding the market with distorted tales of who Byron had been. (Although in that particular case, it may have increased his longevity. Had we known Byron for his poetry alone, and not for his scandalous lifestyle, we might have collectively decided to forget him entirely.) And truly, the story about him sleeping with his sister ended up coming out anyway, as usually happens with the truth about these kinds of matters.

Who knows how many times such behavior prevented a creator’s revival. When it comes to explaining why some stay in the rut of obscurity while others are able to transcend, the process remains mysterious. A vague sense of the world catching up to the art, or a momentum reached that carries the earthbound high into the sky. In Anesko’s telling, it’s just coincidence. Magic. The world finally coming to its senses.

In Solar Dance: Van Gogh, Forgery, and the Eclipse of Certainty, Modris Eksteins credits a descendent for rehabilitating the poor, mad painter: his sister-in-law, Johanna van Gogh. Johanna seemed to have no qualms, no squishy emotions about the painter-as-man, nothing she felt the need to hide. She simply packed up the huge mass of more than 600 paintings and set up shop outside Amsterdam, determined to break through the art world by hand. She arranged a tour of the paintings, put them in the hands of the influential, and oversaw the publication of Vincent’s letters to her husband, Vincent’s brother Theo. But the element of luck is still present, of course. The world responded to Van Gogh because of the mad energy of the work, but also because of the life story of the underdog and suffering artist — storylines we love and respond to so well. Had Johanna been at all cagey or hesitant to expose her brother-in-law’s less charming characteristics to the world, it might be another artist altogether on all of those coffee mugs.

The stars of our geniuses keep transiting, even after their deaths. Perhaps James will fall out of favor again. Maybe we’ll look back at those people lined up for the Van Gogh exhibits and wonder what they ever saw in that art. And maybe, just maybe, someone will attempt another Irmgard Keun revival, and that brilliant writer will find her ascendancy as well. • 11 April 2012

Advertisements

One response to “Ngôi sao chết rồi mới sáng

  1. Pingback: Ngôi sao chết rồi mới sáng | Nguyễn Huy Hoàng

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: