Family story

Cho bố mẹ và những ngày đã qua

Tôi sẽ nói cho bạn nghe câu chuyện về gia đình tôi. Nhưng bạn nên nhớ là tôi đang nói đùa, nếu không bạn sẽ bị lỡm to. Tôi có tật xấu không kiềm chế được mình! Khi tôi bắt đầu nói thật, tôi sẽ nói không ngừng nghỉ, ngược lại, khi tôi bắt đầu nói dối, tôi cũng nói dối không ngừng nghỉ luôn. Tôi thường bao biện những lời nói dối tức là nói đùa. Mọi chuyện bao giờ cũng dễ chấp nhận khi ta bảo: tôi đùa đấy, thế là toàn bộ trách nhiệm của chúng ta về lời nói sẽ tung bay như hạc giấy.

Và tôi cũng phải nói thêm với các bạn rằng, tôi đã từng nói thật một lần, đó là khi tôi còn trẻ hơn, tôi khi đó đang nhìn về quá khứ và chỉ nghĩ lại xem mọi người đã đối xử với mình ra sao. Tôi nói tất cả những suy nghĩ của tôi với một anh chàng chỉ hơn tôi vài tuổi. Khi đó tôi cho là anh ta có thể thông cảm với tôi, vì tôi nghĩ anh ta có nhiều kỉ niệm tương tự như tôi vậy. Và kết quả thật thảm hại, anh ta nghĩ tôi yêu anh ta lắm. Tôi không phủ nhận là tôi rất thích anh ta, nhưng cũng không thể phủ nhận là tôi biết anh ta cũng chẳng đạo đức gì trong chuyện tình cảm, tức là anh ta giống tôi. Thế là tôi chạy khỏi tầm nhìn của anh ta, nhanh thật nhanh, tôi bao giờ cũng đơn giản trong mọi chuyện, không tạo ra được cái gì, thế là giải tán. Bởi vì tôi chưa từng có ý định yêu người tôi đã thích, và cũng không bao giờ cho phép người khác được nhìn tôi bằng cái vẻ thương hại “Trời ơi! Cô ấy thật tội nghiệp mà ta không làm gì được!”. Đó là lý lẽ của gia đình tôi” Tát chết đứa nào thương hại mình đi!”. Bố mẹ tôi đều nói như vậy, và tôi cũng vậy, rồi em tôi cũng sẽ như thế.

Điều cuối cùng, khi tôi 20 tuổi, tôi nói với bố tôi rằng tôi sẽ không lấy chồng, sẽ không bao giờ có bạn trai nên ông không phải lo cho tôi sẽ bị ai đó lừa dụ. Tôi chẳng hề căng thẳng gì khi tôi nói chuyện đó, vì tôi biết đó là điều hiển nhiên sẽ đến với một người có tính cách như tôi, có tuổi thơ như tôi và có tương lai như tôi nữa. Bố tôi mỉm cười và bảo: “Con cố gắng học cho tốt đi đã!”. Ông không tin, vì hơn ai hết, ông luôn biết rằng tôi luôn đùa cợt trong mọi trường hợp. Sau đó tôi nói tiếp: “Có thể con sẽ có một đứa con chăng?”. Ông đáp: “Thế thì hãy dạy dỗ nó để nó giống con!” Tôi cười, nói thầm với mình: “Không bao giờ con để nó giống con!”

Và đó là những điều bạn có thể đọc trước khi nghe câu chuyện của tôi. Tôi không phải là một nhà văn, trái lại, tôi chửi rủa họ liên tục trong những cuộc nói chuyện của tôi với bạn bè. Đôi khi một tác phẩm làm tôi rơi nước mắt, thế là tôi lại nguyền rủa họ làm cho tôi phải mủi lòng. Nói chung, tôi sẽ không bao giờ làm một nhà văn cả.

Nhưng bố tôi thì rất thích được ai đó gọi là một nhà thơ. Trên thực tế thì ông là một nhà du lịch (cho dù cái nghề này không tồn tại), dường như không có một vùng nào trên khắp đất nước mà ông chưa từng đặt chân đến. Lần nào đi về ông cũng làm một bài thơ, chủ yếu chúng là thơ vịnh cảnh, bầy tỏ nỗi lòng bâng khuâng khi thấy cảnh vật đổi thay. Trong số đó tôi nhớ nhất một bài nói về cảnh khói bụi của một vùng đất đang xây những khu công nghiệp, bố tôi vui vì mảnh đất này phát triển. Còn tôi thì thấy buồn, tôi buồn cho mọi sự đổi thay. Mẹ tôi không bao giờ làm thơ, trừ một lần mẹ làm thơ theo kiểu chơi chữ tên bốn thành viên trong gia đình tôi như là vè vậy, nhưng mọi người đều nhớ là do tôi làm, vì mẹ tôi bảo thế. Ngày bé tôi có làm thơ, nhưng những bài thơ tôi cho rằng hay thực sự thì không ai nhớ đến, họ chỉ nhớ đến bài thơ mẹ tôi làm. Tôi ngừng việc viết thơ từ năm 14 tuổi, đúng ra thì không bao giờ tôi đưa thơ tôi cho ai trong gia đình đọc nữa. Tôi xé tan tành quyển sổ thơ của tôi trước mặt hai người lạ. Và đó là một câu chuyện hài hước!

Ngôi nhà thực sự đầu tiên của gia đình tôi ở cạnh một con sông. Tôi nhớ rất rõ rằng khi đó dọc triền đê vẫn còn những hố bom sâu hoắm và những cây kè mọc ở đó thì đầy những sẹo, thậm chí còn có những ngôi mộ bộ đội có gắn những cái bia kim loại rải rác. Mà khi đó, chiến tranh đã lùi xa khỏi vùng đất này gần 15 năm rồi. Tuy nhiên, không phải chỉ mình con đê, mọi nơi trong vùng đó đều còn lại một chút ít gì đó của chiến tranh, ngay cả ngôi nhà chúng tôi đang sống hiện nay. Ngôi trường cấp 2 của chúng tôi có một cây sung cụt ngọn và không bao giờ to ra hơn nữa, những người sống gần đó đều nói đã có một người bị bom đánh văng lên đó, bay mất đầu. Họ còn cam đoan là những đêm trăng sáng vẫn thấy ông ta ngồi trên cây sung đó, ôm cái đầu của mình. Tất nhiên đó là chuyện dọa trẻ con, vì tôi sống cách trường chỉ 50 mét, bạn bè tôi vẫn chơi trong sân trường những đêm trăng mà chẳng bao giờ thấy ai trên cái cây khốn khổ đó cả. Hoặc là chúng tôi chưa bao giờ đủ đau khổ để nhận ra người đàn ông ấy. Có thể lắm!

Khi chúng tôi chuyển đến ngôi nhà đầu tiên này, nó chỉ là hai gian nhà tranh và một cái bếp con con vách đất ghép bên hông. Nhưng đó không phải là vấn đề quan trọng, tôi nhớ nhất là cái sân đất mọc toàn cỏ là cỏ. Mẹ tôi cho tôi ngồi vào cái cũi, đặt trên một cái chõng và bắt đầu nhổ cỏ. Không phải mình mẹ tôi, mà toàn bộ người giúp nhà tôi chuyển đồ, đều phải tham gia. Cỏ mọc nhiều tới mức tôi phải kêu lên: “Bác Nhị toàn bán cỏ cho nhà mình”. Ai cũng cười vì câu nói của tôi, nhưng chẳng ai cho tôi ra khỏi cái cũi vì họ tôi chạy đi chơi lạc, chính vì vậy mà tôi phải … tự mình trèo ra.

Và tôi phát hiện thêm một điều tôi không bao giờ quên được, đó là ngôi nhà có một vườn ổi rộng vô cùng ở phía sau. Ổi còn được trồng xung quanh cái ao con, rậm kín. Tôi chạy te te vào sân kêu réo ầm ĩ về chuyện này, chưa bao giờ tôi thấy mình lại được sở hữu một nơi nào đáng thú vị đến thế, nhiều cây đến thế. Chỉ hai tuần sau khi chuyển tới, mẹ tôi đã chặt hết hơn một nửa số cây ổi trong vườn. Cách mẹ chọn lựa rất đặc biệt: bà dắt tôi theo sau, tới từng cây, hái một quả dạng ương ương (đó là thời điểm ngon nhất của quả ổi) đưa cho tôi nếm, nếu tôi khen ngon, bà sẽ đánh dấu vôi cây đó. Hết một buổi chiều, bụng tôi no căng và tôi chán tới mức về sau cây nào tôi cũng chê hết. Bằng cách đó, mẹ tôi đã chặt được một số cây làm bà ưng ý đồng thời trị cho tôi chừa luôn cái thói bỏ ăn cơm đi tha thẩn trong vườn ổi. Tuy vậy, vườn ổi vẫn là một thiên đường của tôi, và nó là vườn ổi có một không hai trên thế giới. Bởi vì, sau khi chặt hết những cái cây bị tôi chê, mẹ tôi đã trồng thế vào đó những cây ổi đặc biệt. Quả của chúng rất to, gấp 5 lần một quả ổi lớn bình thường, và đó là những quả ổi không có hạt. Điều này đồng nghĩ với việc chúng vô sinh, cho dù chúng ăn rất ngon và chúng đẹp hoàn hảo. Muốn nhân giống, mẹ tôi phải chiết cành. Tôi thấy bà bỏ ra cả buổi sáng ngồi trộn bùn đất với lông lợn. Nhưng chỉ có độ 2, 3 cành chiết có thể sống trong số hàng chục, có lẽ người tạo ra giống câu này muốn bảo toàn sản phẩm của mình, vì vậy mẹ tôi chỉ chiết một lần duy nhất, bà không thích làm những việc thiếu hiệu quả. Đó là điều ngược lại với tất cả những thành viên còn lại trong nhà tôi.

Việc xây dựng đầu tiên trong nhà là việc lát gạch cho cái sân. Điều này nghe có vẻ phi lý, vì ngôi nhà của chúng tôi không được xây tường, thậm chí giữ nguyên cái nền nhà nện đất, nhưng sân thì được lát gạch. Vì hai lý do, cái sân là nơi mẹ tôi làm việc và nhà tôi ngay sau đó đã làm một cái móng ngay cạnh ngôi nhà cũ.

Tôi biết đọc từ khi tôi 4 tuổi, và mẹ tôi đã đặt báo Thiếu niên tiền phong cho tôi khi tôi chưa vào lớp 1. Buổi tối, mẹ tôi và tôi ngồi ngoài sân. Tôi cầm một cuốn truyện ê a đọc – đó là cuốn truyện tranh duy nhất tôi có, Buratino cậu bé người gỗ – trong khi mẹ tôi dần cám, trộn men với cơm để ủ rượu, thái rau cho lợn. Khi mẹ tôi xong việc, tôi sẽ xăm xăm cầm cái chổi lùn để quét sân trong khi mẹ tôi tắm rửa. Tôi rất yêu cái sân ấy, nó gắn bó hoàn toàn với những ngày đẹp đẽ nhất mà tôi còn nhớ được y nguyên, và giấc mơ đẹp nhất của tôi cũng là khi tôi ngồi trên cái chõng mây bóng láng, đọc cuốn sách hay nhất của thế giới khi mẹ tôi, mới hơn 30 tuổi, có mái tóc dầy và mượt, ngồi làm những công việc của bà.

Tôi biết là các bạn đang cho rằng mẹ tôi quả là một người phụ nữ nông thôn hoàn hảo. Tôi phải nói lại là các bạn đang lầm to, vì mẹ tôi là một kĩ sư xây dựng. Thậm chí, bà còn là một kĩ sư rất giỏi và vô cùng quan trọng trong giới của bà. Thực chất thì mẹ tôi chỉ ở nhà vào buổi tối và thỉnh thoảng mới được nghỉ cuối tuần. Bà phụ trách những công trình lớn như xây dựng các trường học, bệnh viện và các nhà hội nghị. Một nửa buồng ngủ của bố mẹ tôi là các bản thiết kế, dụng cụ đo đạc, những cuộn giấy dầu (không biết bạn có biết tới loại giấy này không?) và cơ man nào là bút chì… Đồ làm việc của bố tôi giản dị hơn nhiều, chỉ có một cặp tài liệu, cái còng số 8, một khẩu súng và hai ba hộp đạn… Về súng thì tôi không hứng thú lắm – nó đen sì và nặng khủng khiếp, nhưng tôi nhớ những viên đạn xinh xinh, vàng chóe, cầm rất vừa với bàn tay nhỏ bé của tôi khi tôi năm tuổi. Hơn nữa, bố tôi không thường xuyên mang súng về nhà, nhưng những hộp đạn thì thường trực nằm ở đó vì có lẽ bố tôi chắc chưa bao giờ phải dùng tới chúng. Việt Nam là một đất nước rất hiếm tiếng súng khi không có chiến tranh! Đồ dùng làm việc của bố mẹ tôi là một kho đồ chơi vô tận, ngoại trừ khẩu súng tôi chỉ được sờ vào khi bố tôi ngồi cạnh và đã tháo hết đạn. Tôi có thể học cộng trừ với những viên đạn luôn luôn mới tinh, khám phá quy luật vướng vào thì dễ, gỡ ra thì khó với cái còng số 8 bóng loáng và tuyệt vời nhất là những cái thước đủ loại hình dạng cùng với những cái bút chì hết sức đặc biệt của mẹ tôi. Tôi là một đứa trẻ học toán rất giỏi, và sau này tôi học hình học không gian tốt hơn tất cả bạn bè cùng lứa, có lẽ là vì tôi đã nhìn chán mắt những hình khối mẹ tôi dựng lên trong những bản vẽ rộng đủ đắp kín cái giường đôi. Thực chất thì tôi luôn giỏi về các môn khoa học tự nhiên. Ai mà biết được tôi sẽ thành một người như hiện nay!

Chẳng có ai lấy làm kinh ngạc về chuyện mẹ tôi vừa phải trồng cây, nuôi lợn, nấu rượu vừa phải
làm một kỹ sư cả. Những năm cuối thập kỉ 80, ở Việt Nam ai mà chẳng thế. Mọi nhân viên nhà nước đều phải làm thêm một thứ gì đó mới có thể đảm bảo cho gia đình, ngay cả khi họ là một cặp vợ chồng mới có một con như bố mẹ tôi. Và điều đó cho các bạn thấy thêm rằng, mẹ tôi là một người phụ nữ khỏe mạnh vô cùng. Bà vừa chăm sóc vườn ổi, thậm chí còn trồng thêm mấy cây táo, vừa đi làm ở những công trường nắng và bụi khủng khiếp và hầu như đêm nào bà cũng phải thức tới tận một hai giờ sáng để kẻ vẽ, tính toán. Và bạn cũng đừng kinh ngạc gì khi tôi nói rằng mẹ tôi nghiện thuốc lá, nếu không có thuốc lá, mẹ tôi sẽ chẳng chịu nổi từng đấy áp lực công việc. Mẹ tôi vẫn hút thuốc cho tới bây giờ. Cho nên, tôi chán ghét ba cái chuyện ngu ngốc trên phim ảnh Việt Nam khi nhân vật nữ chán đời sa ngã là thò tay tóm luôn lấy gói thuốc rồi nghiêng ngửa hút và ho khằng khặc như cóc ngậm thuốc lào. Mẹ tôi phải lao động vắt óc cật lực và bà hút thuốc lá, chẳng có gì trên đời dễ hiểu hơn thế!

Thế nhưng mẹ tôi chưa bao giờ làm một bản thiết kế xây dựng cho căn nhà của chính gia đình tôi. Bạn thấy đấy, nhà tôi đã có một cái móng, nhưng chưa bao giờ có một cái nhà được xây lên trên cái nền móng đó. Bây giờ tôi vẫn thấy nó nằm đó, rau dại mọc đầy, bên cạnh căn nhà lợp ngói lùn tịt và xấu xí hết chỗ nói của người chủ mới. Chúng tôi thực ra chưa bao giờ xây được ngôi nhà nào, vì khi tôi lên 7 tuổi, gia đình tôi đã chuyển đi khỏi ngôi nhà có vườn ổi phía sau.

Chúng tôi không bán nhà mà chỉ đổi nhà cho một người phụ nữ độc thân. Bà ấy rất đẹp, nhưng tất cả những người có kinh nghiệm đều nói là bà có tướng khổ. Bà có đôi mắt như người Trung Đông – rất to, màu hơi nâu xám, lông mi rợp và xuôi xuống phía dưới. Trước khi đổi nhà cho chúng tôi, bà sống với một người phụ nữ khác, cao lớn, giọng khàn và cực kì thô cứng. Mọi người bảo họ đồng tính luyến ái, tôi cũng không rõ, vì tôi còn bé quá! Tôi chỉ nhớ thỉnh thoảng đi học về, tôi lại thấy người ta bu đen quanh ngôi nhà xem bà cao to đánh đập bà xinh đẹp. Chính bố tôi phải can thiệp vào những vụ lộn xộn này và thường thì ông bị bà cao to đấm cho mấy cái trước khi lôi được bà ra khỏi ngôi nhà. Thực tình thì bà xinh đẹp có hai đứa con, nhưng họ đều đã vào Nam sống với bố và bà vợ bé của ông ta, bây giờ thì chắc đều có gia đình con cái rồi. Con gái của bà xinh đẹp cũng rất đẹp, nhưng chị trông cứng rắn và lạnh lùng hơn mẹ mình, thậm chí tới mức hơi đáng sợ. Một lần gặp lại tôi, chị đã nói rằng ngôi nhà là kí ức tồi tệ nhất cuộc đời chị và chính chị đã đứng ra đổi nó lấy căn nhà của chúng tôi hộ mẹ mình.

Khi chúng tôi đổi nhà, gia đình tôi đã mua tới 3 cái máy xay xát gạo và bố mẹ tôi gần như chẳng bao giờ có mặt ở nhà. Nhà tôi đông người khủng khiếp, hôm nào ăn cơm cũng phải chia làm mấy lượt và hàng ngày sau khi đi học về tôi đều được cho 50 đồng đi mua dưa chuột để nịnh bợ ngồi trông cái khu nhà máy lớn nhất trong khi những người làm công đi ăn cơm. Một buổi chiều, tôi đi học về thì thấy căn nhà lá của tôi chẳng còn đồ đạc gì, trái lại ngoài sân thì chất đầy những bàn ghế giường tủ lạ hoắc. Cho dù biết rõ là nhà tôi sẽ được đổi nhưng tôi vẫn khóc, tôi chẳng biết đâu mới là nhà của mình trong khi bố mẹ tôi lại đi đâu mất. Tôi vừa hưng hức khóc vừa cun cút chạy ra nhà máy gần nhất để tìm mẹ. Mẹ tôi không có ở đó nhưng lại có người anh thì đang chạy máy, anh tôi cười và dắt tôi về nhà mới, bảo rằng từ hôm nay nó là nhà của tôi. Cửa nhà đã bị bố mẹ tôi khóa nên tôi và người anh họ đành phải ngồi đợi trên bậc thềm, bên cạnh những cây hoa mõm chó hồng hồng đỏ đỏ mọc tràn từ vườn lên cả đầu hè. Đó là ngày đầu tiên của tôi ở ngôi nhà mới, và chúng tôi đã ở đó cho tới tận bây giờ.

Tôi phải dành vài lời để nói về người anh họ của tôi. Anh hơn tôi 14 tuổi, cao 1,8 m và hết sức đẹp trai. Tôi có tổng cộng 7 người anh họ, trong đó có một người ít hơn tôi 13 tuổi và tôi chưa bao giờ gặp. Tôi cũng chưa bao giờ gặp một ông anh họ ít hơn tôi 6 tuổi và một cậu em họ ít hơn tôi 11 tuổi. Thật là một số lượng đông đảo và tất cả đều là anh em họ đằng ngoại, vì mẹ tôi có tới 5 anh chị em còn bố tôi là con một. Người anh tôi đang nhắc đến là người anh nhiều tuổi thứ hai trong đại gia đình nhà ngoại, khi đó anh đang chuẩn bị thi đại học lần thứ 3. Tôi nhớ tới anh vì anh hiền hòa và nuông chiều tôi nhất trong số những người anh của tôi. Trừ những người ít tuổi hơn tôi, tất cả các anh đều rất thân thuộc trong gia đình tôi và tôi luôn nghĩ rằng họ là anh ruột của tôi. Đó là điều bây giờ chẳng còn nữa, và tôi cũng chẳng mấy khi được nhìn thấy trong những gia đình khác nữa. Mẹ tôi không phải luôn hòa thuận với các anh chị của mình, nhưng những người anh chị họ và tôi thì luôn thương yêu nhau. Và nếu nói giản dị hơn, thì đó là truyền thống của gia đình tôi, khiến cho chị em tôi, và thậm chí cả bố tôi nữa, gần như hoàn toàn tách khỏi mối liên hệ bên họ nội. Người anh của tôi giờ không còn ở Việt Nam, anh tôi đi sang Nga để học, nhưng rồi sau đó thì bỏ đi buôn bán, chạy hàng và chuyển luôn sang Ukraina. Đã 13 năm anh tôi không hề quay lại Việt Nam một lần nào và cũng chẳng gọi điện về bao giờ, đó là một câu chuyện khác, nhỏ nhoi trong câu chuyện về gia đình của tôi.

Và tôi đang nói với bạn về ngôi nhà tranh đầu tiên của gia đình tôi, nơi tôi chỉ sống có 3 năm. Một quãng thời gian tương đương với những ngày tôi sống trong kí túc xá sinh viên, nhưng tôi sẽ chẳng nhớ gì về kí túc xá ngoài những con chim cú và những cây hoa sữa. Thời gian của sinh viên tôi tiêu tốn cho hàng trăm chuyện ngớ ngẩn như sách vở, yêu đương, ngủ nghê, internet và ngồi nói xấu các giảng viên…

Trước khi chuyển đến ngôi nhà mới kia, tôi và bố mẹ sống trong một khu tập thể. Nhiều người, ngay cả bố mẹ tôi cũng kinh ngạc về chuyện tôi vẫn nhớ những kỉ niệm về nơi ấy, tôi được sinh ra và chỉ sống ở đó có bốn năm đầu tiên của cuộc đời mình. Sau này, tôi chưa từng quay lại đó lần nào! Với tôi, đó là những kí ức hiện lên đột ngột khi bỗng nhiên tôi cảm thấy một điều gì đó quen thuộc. Tôi nhớ căn phòng tập thể chỉ có một cái giường duy nhất cho cả bố mẹ và tôi. Chúng tôi cũng có một bộ bàn ghế, hình như chúng mầu nâu. Trước phòng chúng tôi có một cái sân đất nhỏ để trồng rau. Bao quanh nó là một hai dẫy nhà cấp 4 ghép thành chữ L. Bố tôi hàng ngày đi tắt qua một cái hồ để tới cơ quan, còn mẹ tôi cũng đi tắt qua một khu vườn để tới cơ quan của mẹ. Tôi bị nhốt trong cái cũi, được nhờ người trông và đôi khi được người anh họ lớn nhất của tôi giữ. Tôi là một đứa trẻ “ghê gớm”, ai cũng nói vậy khi họ gặp tôi lúc tôi đã lớn. Tôi biết nói rất sớm, béo quay như cục bột và có đôi mắt to và khuôn mặt tròn như mặt mẹ tôi. Tôi thích nhăn nhó, quát tháo khi tôi mới 2 tuổi và thường xuyên chỉnh sửa mọi người. Về mặt này thì tôi giống hệt mẹ tôi! Tôi giống bố mẹ tôi trên nhiều phương diện và toàn những tính cách đặc trưng của họ cho dù bố mẹ tôi rất khác nhau.

Tôi muốn nói lại cho các bạn nghe những câu chuyện của tôi khi 2, 3 tuổi là vì khi đó một đứa trẻ mà béo tốt như tôi rất ít. Trẻ em thế hệ tôi hay trước tôi đa số là còi cọc, thiếu chất và thấp bé hơn hẳn so với những đứa trẻ sinh ra cuối thập kỉ 80. Đó là một thời kì mà cho đến giờ các giáo viên vẫn hào hứng kể cho học sinh nghe, họ phải xếp hàng mua gạo như thế nào, một tháng được cấp 2 lạng thịt ra sao, sinh viên phải ăn gạo độn mạch, áo quần nhân viên nhà nước phải vá víu là chuyện bình thường và có thể, họ còn kể cho bạn nghe muốn ăn một con gà phải trốn chui, trốn nhủi như thế nào. Đa số họ gọi đó là thời kì bao cấp hay tem phiếu, khi UNICEF phải viện trợ cho trẻ em bột dinh dưỡng và bất cứ ai cũng phải lo lắng đến chuyện làm sao để có thể nuôi một đứa trẻ sao cho đừng còi xương. Và mẹ tôi làm trong ban cấp phát tem phiếu hàng tháng của cơ quan mẹ tôi. Tôi chưa bao giờ phải chịu thiếu chất vì suất bột dinh dưỡng của tôi xem ra hơi thừa so với mức cần thiết, nhà tôi cũng chưa bao giờ có chuyện chỉ cho một giọt mỡ vào nước rau luộc giả làm canh. Bố mẹ tôi chưa bao giờ nói lại dù chỉ một lời với em gái tôi về những ngày tháng bao cấp trước năm 1986 như rất nhiều người khác, vì gia đình tôi chưa bao giờ hiểu về những ngày đó. Còn tôi thì quá ít tuổi để mà quan sát mọi điều!

Những điều tôi nhớ duy nhất chỉ là cái roi của mẹ tôi vẫn đặt trên đầu giường để dạy tôi không được hỗn láo với người lớn. Một buổi chiều tôi đem giấu nó ra sau cánh cửa đi xuống bếp và bố tôi đã mách với mẹ tôi điều đó để hai người cười với nhau. Tôi nhớ rất rõ hình ảnh ấy, cho dù tôi chỉ hai tuổi rưỡi. Tôi cũng nhớ lần đầu tiên tôi vào Sài Gòn, vì đó là lần đầu tiên tôi đi xa khi tôi gần ba tuổi. Tôi nhìn thấy con tầu dài khủng khiếp lần đầu tiên trong đời với những cái toa nối khiến tôi nghĩ đến những khúc mía. Tôi nhớ những cái võng mắc ngang mắc dọc trên toa tàu, và những cái hầm tối đen khiến tôi sợ hãi. Thành phố Hồ Chí Minh là một không gian hoàn toàn khác với thế giới bình thường của tôi, nó vẫn khác cho đến bây giờ.Nhưng khi đó tôi rất thích, còn bây giờ thì không! Đó cũng là lần đầu tiên tôi được chụp ảnh mầu, và cái bà chụp ảnh mắt xanh mỏ đỏ làm tôi sợ phát khiếp, đến nỗi không một bức ảnh nào của tôi mà không thấy tôi đang nước mắt lưng tròng. Miền Bắc khi đó phải chia nhau từng cái săm xe đạp, nhưng ở thành phố Hồ Chí Minh, xe máy nườm nượp và các quán nhậu thì tưng bừng thâu đêm. Bố tôi đã bán cái xe đạp với giá 10.000 đồng mới có đủ tiền vào Nam lần đó, nhân dịp đám cưới cậu tôi. Mẹ tôi đi uốn tóc, mặc áo dài đỏ và trong đám cưới, bà đẹp hơn tất cả những diễn viên thời đó. Đó là đám cưới duy nhất của gia đình mẹ tôi mà tôi được tham gia. Hai người anh của mẹ tôi cưới sau cậu tôi, nhưng bố mẹ tôi đều không tham dự được. Và những tấm ảnh họ gửi về đều khiến tôi cảm thấy thế giới của họ khác xa chúng tôi, như là không có thật vậy, cảm giác đó còn mãi tới tận bây giờ.

Lần thứ hai vào TP HCM là khi tôi 5 tuổi, chuyến đi này tôi còn nhớ rõ hơn vì tôi bị ngộ độc thức ăn trước khi lên tầu vài tiếng. Suýt nữa thì tôi bị gửi lại ở nhà bác tôi, nhưng bố tôi, vốn là người cưng chiều con cái đã cho tôi đi cho dù mặt mày tôi vẫn còn xám ngoét. Chuyến tầu không còn hấp dẫn như trước ngoại trừ chuyện tôi được ăn những món ăn lạ lùng khiến tôi đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, và tôi đã chịu nhìn ra ngoài cửa tầu để ngắm cảnh. Và đây cũng là lời khuyên của tôi, nếu ai đó muốn đi du lịch xuyên Việt, hãy đi tầu, không một mảnh đất nào của Việt Nam lại giống một nơi khác. Nhưng khi đến đèo Hải Vân, hãy đi xe ô tô. Tôi được lên đỉnh Hải Vân lần đầu tiên khi tôi đã 21 tuổi, và ở đó gió thổi hơi muối đậm tới mức tóc bạn mặn chát. Nhưng ở ngay trên đỉnh cao nhất của nó vẫn có sóng điện thoại di động, tôi đã nhắn tin về cho mấy người bạn của mình để nói với họ rằng tôi đang ở trên đỉnh cao nhất của con đèo chia hai miền Nam Bắc và biết đâu lát nữa xuống dốc, tôi sẽ chết trong một vụ lật xe bi kịch và được báo chí đăng ầm ĩ! Và may thay, tôi đã an toàn! Còn khi năm tuổi, tôi đi tàu dưới chân đèo Hải Vân, cảm thấy biển dường như ngay bên ngoài cửa sổ, chỉ cần với tay là chạm tới.

Và lần đi đó dường như là lần đầu tiên tôi được gặp ông ngoại của mình. Thực ra ông tôi vẫn sống ngoài Bắc, nhưng không hiểu sao mọi kí ức về ông tôi quên hết ráo! Tôi nhớ tôi gặp ông vì khi đó đầu ông tôi đã hói tới mức có thể, và trở thành cái bia hứng hoàn hảo cho trò thả giấy, thả bi của tôi từ cầu thang xuống. Tôi là một đứa bé cẩn thận tới mức phi lý khi còn bé, nhưng đồng thời tôi cũng là một con quỷ nhỏ. Tôi phá phách và nghịch ngợm không chừa thứ gì trong nhà của cậu tôi, làm gẫy tai những con chó bằng sứ đặt hai bên cửa, phá hỏng gần một phần tư cây mận của bác tôi (mà tôi gọi là cây bồng bồng) với cây sào chọc quả dài gấp 10 lần mình. Nhưng tôi thích nhất là xem ti vi! Đó là lần đầu tiên tôi được xem ti vi, thậm chí tôi còn nhớ vào lúc 3h chiều, người ta vẫn phát một bộ phim hoạt hình về những con chim én. Chiếc ti vi của nhà bác tôi thậm chí còn có mầu, nhưng tôi không thích bằng chiếc ti vi đen trắng của nhà cậu tôi. Phải tận tới năm 1994, nhà tôi mới có chiếc ti vi đen trắng hàng Việt Nam sản xuất. Tôi không nói gia đình tôi nghèo, nhưng ở một thị trấn nhỏ ở Bắc Trung Bộ, nhà tôi là một trong những gia đình có ti vi sớm nhất, sau khi bố mẹ tôi bán đi rất nhiều cá từ cái hồ nhà tôi thuê nuôi.

Một ông thầy đã gọi chúng tôi là thế hệ 15 năm sau chiến tranh, tôi không thực sự hiểu về điều đó. Tôi chẳng có ý niệm về chiến tranh ngoài những bộ phim tài liệu mà người ta vẫn phát đi phát lại, năm nào cũng giống năm nào và chẳng còn làm cho những người bằng tuổi tôi cảm động. Tôi thích xem phim tài liệu của Mỹ hơn – và tôi đã bỏ không xem Vĩ Tuyến 17 ngày và đêm mà xem Apocalypse now tới 5 lần, tôi đã không xem hầu hết các chương trình phim kỉ niệm lịch sử trên ti vi nhưng tôi lại giữ Farenheit 11/9 trong máy tính của mình. Nhưng tôi có thể nói rằng tôi hiểu về sự khác biệt kinh khủng của hai miền trong 20 năm sau chiến tranh, sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn, cho đến giờ, điều đó vẫn chưa thay đổi là mấy. Gia đình tôi gần như tách ra khỏi quy luật và những nỗi khổ chung của mọi người xung quanh, nhưng tôi vẫn biết điều đó. Và thực lòng mà nói, đó chưa bao giờ là điều tôi quan tâm nhiều lắm!

Advertisements

6 responses to “Family story

  1. Tung January 7, 2007 at 8:09 am

    Em có quen một cô hoạ sĩ, nhất quyết không cho con gái theo học Mỹ thuật. Thật kì lạ khi người ta nằng nặc làm theo ý mình rồi lại nằng nặc không cho con cái mình làm theo ý chúng. Thế nên, mâu thuẫn giữa các thế hệ muôn đời – vẫn thế! :)

    Trong chuyện của chị, em thấy bố chị thật tinh tế khi khéo léo đưa chị vào vị trí của bậc phụ huynh: “Thế thì hãy dạy dỗ nó để nó giống con”. Và chị thấy ko – đứng ở vị trí ấy, chắc chị hiểu cha mình đang nghĩ gì
    :P

    Like

  2. yuhgnat January 7, 2007 at 9:12 am

    nếu em trở thành một nhà văn – một cô gái biết cách cất dấu, gìn giữ kí ức, có trí tưởng và nội tâm sinh động, phong phú… ;) – thì tuyệt… anh nghĩ vậy…:)

    Like

  3. yuhgnat January 7, 2007 at 9:13 am

    (…có trí tưởng tượng…)

    Like

  4. Tom June 9, 2007 at 12:20 pm

    chính vì vậy mà tôi phải … tự mình trèo ra.
    E hèm, moony ko muốn làm nhà văn …
    Ko hiểu :)

    Like

  5. Pingback: Moonie Mun

  6. HA October 14, 2011 at 2:42 am

    Bạn Moonie viết rất hay, có giọng rất riêng.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: