Trận chiến phê bình tác phẩm của Haruki Murakami

(từ http://vnthuquan.net)

Một số tên tác phẩm, tôi mở ngoặc ra bên cạnh cách dịch của tôi để mọi người tiện theo dõi những bài viết sau.

 

Nhà văn Nhật Bản đương đại Haruki Murakami sinh năm 1949. Ngay những trang viết đầu tay của ông đã thu hút được sự chú ý của giới phê bình. Năm 1979, tác phẩm đầu tiên của ông Khi nghe tiếng hát của gió (Lắng nghe gió hát – Moony) đã nhận được giải thưởng của tạp chí văn chương Gundzô. Giải thưởng này được lập ra dành cho những nhà văn trẻ. Kể từ đó trong suốt một phần tư thế kỷ, những sáng tác của ông lay động tâm hồn không chỉ độc giả Nhật Bản, mà cả độc giả ở hàng chục nước trên thế giới. Như báo Axaki viết, những tác phẩm của ông được phổ biến rộng rãi ở nước ngoài. Các bạn đọc trẻ vùi đầu vào những sáng tác của Murakami (The Asahi Shimbun 15 January 2003 P1). Quả thật là như thế: năm 2003, chỉ riêng Nhà sách Matxcơva đã bán được khoảng 20 nghìn cuốn sách của ông.

Những tác phẩm của Murakami đã được dịch ra 29 ngôn ngữ thế giới và trở thành những cuốn sách ăn khách nhất. Các nhà phê bình gọi hiện tượng này là căn bệnh kỳ lạ “chất ma tuý Murakami” (Harper Bazaaz. March 1993. P2). Có điều thú vị là giờ đây những tác phẩm của Murakami có nhu cầu cao hơn ở nước ngoài so với ở chính Nhật Bản. Chẳng hạn, ở các nước Đông á, phong cách “nhẹ nhàng” của ông đã sản sinh nhiều nhà văn – bắt chước, mà người ta gọi là “những đứa con của Murakami”. ở Hàn Quốc, những tác phẩm của ông bao giờ cũng giữ vị trí hàng đầu trong danh mục bestseller. Chiô Iang Iuk, Giám đốc Viện nghiên cứu văn học Nhật Bản ở Seoul nhận xét rằng những tác phẩm của Haruki Murakami ở Hàn Quốc cũng phổ cập như ở Nhật Bản (The Asahi Shimbun 1 May 2000 P.1). Tại đây đã xuất bản 50 ấn phẩm dịch tác phẩm của Murakami. Trong đó ngoài những tác phẩm văn học còn có tiểu phẩm và những bài trả lời phỏng vấn của ông.

Khi phân tích sáng tác của Murakami, đại đa số các nhà phê bình Nhật Bản và nước ngoài đều nhận định rằng ông tạo ra một thế giới, trong đó các nhân vật bị bế tắc trong cuộc đời đã đi lang thang vô nghĩa trên các khu phố đô thị của Nhật Bản hiện đại. Họ nuốt chửng (với cả nghĩa đen và nghĩa bóng của từ này) những sản phẩm của nền văn hoá phương Tây từ chiếc bánh mì kẹp nhân ăn nhanh đến nhạc pốp, nhạc rốc. Trong thế giới đó tình yêu chỉ là những cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên, ở đó những người phụ nữ không còn giữ được nữ tính, mà mạnh về quyền lực và vô cảm. Còn những người đàn ông thì yếu đuối, quỵ luỵ, sống theo nguyên tắc: không làm ai buồn phiền, không làm ai tức giận. Họ chỉ mơ ước có một chiếc xe hơi đời mới hạng sang và có thể sống vô tư suốt cả cuộc đời, nghe nhạc “Beatles” hoặc “Beach Boys”. Chung quanh tràn ngập thứ văn hoá pốp kiểu Mỹ. Xã hội này là xã hội tiêu thụ với vẻ bề ngoài phồn vinh vật chật, song lại rỗng tuếch tinh thần.

Như nhà phê bình văn học Pháp Agnê Ziaz nhận xét, trong thế giới này “bạn luôn cảm thấy cay đắng và trống rỗng” (Magazine litteraire du salon du livre. Mars 1997, No352 P.1). Lúc đó, một câu hỏi đặt ra: vì sao những sáng tác của ông lại được độc giả và các nhà phê bình ở nước ngoài chấp nhận ngay lập tức? Có lẽ vì ông có thể hiểu thấu sự lúng túng của đại bộ phận những người đại diện thế hệ trẻ mới ở các nước khác nhau. Họ không có khả năng tìm được sự thoả mãn cuộc sống trong xã hội tiêu thụ, song đồng thời họ thậm chí không nghĩ được ra rằng cần phải thay đổi cái gì đó hoặc tìm cách bứt khỏi sức ép của hệ thống. Murakami hy vọng rằng “những cuốn sách của ông có thể giúp họ cảm nhận được tự do – ra khỏi thế giới hiện thực” (The Guardian 26 May 2001 P.1).

Murakami miêu tả không chỉ đời sống của nước Nhật Bản hiện đại. Shame North, Tổng biên tập tạp chí văn hoá và nghệ thuật nổi tiếng Characters cho rằng “Ông viết về những tâm hồn mất mát, lang thang đó đây để đi tìm hạnh phúc nhỏ nhoi”. “Thậm chí tôi, – Shame North thú nhận, – tưởng rằng đối với tôi mọi sự đều ổn, thế nhưng chỉ sau khi đọc một trong những tác phẩm của ông, tôi mới hiểu ra rằng trên thực tế tôi là con người hoàn toàn khác” (The Hackwriters, 2001, P.2). Các tác phẩm của Murakami mở cánh cửa vào tâm hồn bạn đọc, cũng như vào thế giới kỳ quái này với không gian đô thị, một mặt, tràn đầy những toan tính tâm lý, nhạc, sex, ẩm thực khác nhau, mặt khác, với những con ngáo ộp, bóng ma đen tối xâm nhập vào cuộc sống này và làm đảo lộn những diễn tiến bình thường của cuộc sống.

Khi mô tả cụ thể sự tồn tại tầm thường của chúng sinh hiện tại, Murakami giúp bạn đọc nhớ lại chính mình. Ông buộc họ phải ngẫm nghĩ về lối sống, lý tưởng của mình, giúp họ mở mắt nhìn nhận thế giới, giới thiệu những gì mà họ không có khả năng nhìn thấy và hiểu, bởi lẽ trước đó họ phải tần tảo với cuộc sống tầm thường, bị màn the che mắt, vùi đầu vào những lo toan thường nhật. Báo Washington Post thừa nhận Murakami là nhà văn xuất sắc của “nước Nhật Bản hiện đại, một đất nước phồn vinh đột biến đang tìm những lý tưởng đã mất của mình. Trong nước Nhật của ông những truyền thống cũ đã bị phá vỡ, còn thế chỗ chúng là những lý tưởng vô nghĩa, và không một ai biết cái gì sẽ tiếp diễn” (The Washington Post. 25 December 1989).

Một trong những đặc điểm hấp dẫn, nhưng cũng gây sốc của các tác phẩm Murakami là ở chỗ sau khi đọc xong những tác phẩm của ông đại đa số có cảm nhận như các nhân vật của ông vẫn tiếp tục tồn tại. Không phải ngẫu nhiên người ta ví tác phẩm của ông với chất ma tuý.

“Sau thế giới của Murakami” ngay trong cuộc sống hiện thực bạn sẽ vô tình bắt gặp bóng ngáo ộp, tìm được ranh giới giữa 2 thế giới, thế giới thường nhật, tầm thường và thế giới huyền ảo của những bóng ma. Nhà báo Hoa Kỳ Philipp Vase nhận định rằng: “Thế giới của Murakami” có quy mô hành tinh, đụng chạm đến các vấn đề của toàn thể loài người”. (The Economist 17 May 2001).

Giáo sư văn học Nhật Bản ở trường Đại học Quốc gia Hàn Quốc, ông Nôricô Jajanuma viết rằng các bạn đọc trẻ bắt đầu ganh đua với những bạn trẻ Nhật Bản nhờ những cuốn sách của Murakami. Họ nhận thức được rằng thanh niên Nhật Bản cũng có tình cảm, vấn đề và xúc cảm giống như họ. Giáo sư văn học Nhật Bản thuộc trường Đại học Harvard còn đặt câu hỏi tầm cỡ hơn, ông Jay Robin: “Đây có phải là tiếng nói của thời đại chúng ta?” Tuy nhiên nếu phán xét theo phản ứng của những người thuộc các nền văn hoá khác nhau, thì có thể nói rằng sáng tác của Murakami đã làm được cái gì đó cực kỳ lớn lao với bạn đọc thuộc các nền văn hoá khác nhau, và việc này đã làm tăng tiếng tăm của “nền văn học Nhật Bản”.

Tuy nhiên ở Nhật Bản thái độ đối với sáng tác của Murakami cũng không giống nhau. Một mặt, một số nhà phê bình như Haruka Fucuma và Teitsuô Matsuda ví sáng tác của ông với ánh sáng hoàng hôn, tựa như “nó có tồn tại trong thế giới để giúp tìm lối thoát khỏi tình trạng bế tắc”. ở Nhật Bản có những người tỏ vẻ khó chịu vì tác phẩm của Murakami phổ biến rộng rãi không chỉ ở trong nước, mà còn cả ở nước ngoài. Đây chẳng qua chỉ là sự ghen ghét tầm thường.

ở Nhật Bản người ta đã và đang phê phán Murakami cũng chỉ vì ông “phản bội” những truyền thống văn chương Nhật Bản mà ngay những nhà văn Nhật Bản được giải thưởng Nobel vẫn tuân thủ, chẳng hạn như Iaxunari Kavabata, Kendzaburo Oe và những cây cổ thụ khác trong làng văn. Ông bị phê phán còn vì ông chịu ảnh hưởng của nền văn hoá pop nước ngoài. Trong con mắt của một số nhà phê bình Nhật Bản, Murakami là “kẻ nghiền bơ” hay còn gọi là “kẻ lai căng”, bởi lẽ ở xứ sở Mặt trời mọc, người ta rất xem nhẹ những món thực phẩm làm bằng sữa.

Năm 1986, một năm sau khi phát hành cuốn sách Đất nước kỳ diệu và điểm cuối của trần gian (1985) (Miền đất kì diệu vô tình và nơi tận cùng của thế giới – Moony) và , Kendzaburo Oe đã đăng một bài với tiêu đề Tiếng hát than thở của nhà văn. Trong bài này, ông phê phán Murakami vì nhà văn khi miêu tả lối sống của thanh niên đã không hướng vào giới trí thức với nghĩa rộng của từ này, không phác hoạ được mô hình hiện tại và tương lai của Nhật Bản. Hai năm sau, Oe lại viết một bài khác với mở đầu bằng một câu hỏi tu từ: “Liệu nền văn chương Nhật Bản có ruỗng nát?”. Theo ý kiến của ông, bắt đầu từ năm 1985, trong danh mục những tác phẩm ăn khách không có một tác phẩm nào thuộc dòng văn học thanh cao. Khi đề cập đến những sáng tác của Murakami, tác giả Oe khẳng định sự không hài lòng của mình vì rằng những cuốn sách của Murakami không thuộc dòng “văn chương thanh cao”. Theo ý kiến của ông, sự phổ cập những tác phẩm của Murakami càng chứng minh về quá trình tha hoá của nền văn chương Nhật Bản đương đại.

Cho dù các nhà phê bình có nói gì về Murakami thì tiếng tăm của ông trong lòng bạn đọc ở Nhật Bản và nước ngoài cũng vẫn lan toả rộng rãi. Do đó, một tờ báo Đài Loan đã viết rằng sẽ đến một lúc nào đó tiền giấy Nhật Bản sẽ in hình Murakami, một trong những nhà văn Nhật Bản nổi tiếng nhất của thế kỷ XX, cũng giống như hình ảnh của nhà văn Natsumee Xôxêki được in trên tờ giấy bạc 1000 yên.

Bản thân Murakami cũng không đến nỗi buồn phiền vì người ta không liệt những sáng tác của ông vào dòng “văn chương thanh cao”. Trong một cuộc phỏng vấn ông phát biểu: “Trong thế giới văn chương Nhật Bản thấy rõ hệ thống tầng bậc, trong đó cần phải trải qua con đường từ thấp đến cao”. Và nếu như bạn đang đứng ở đỉnh cao, thì bạn có quyền đánh giá những nhà văn khác. Bạn sẽ đọc những tác phẩm khác nhau và sẽ trao những giải thưởng khác nhau. Tuy nhiên, ở tầng trên cao, thậm chí người ta còn hồ nghi những nhà văn trẻ ở tầng dưới đang làm gì… Khi tôi viết những tác phẩm đầu tay của mình, cấp trên đã tuyên bố rằng nền văn học Nhật Bản đang ruỗng nát, đang suy đồi. Đây không phải là suy đồi, đây là cái gì đó mới. Nhiều người không thích những chuyển biến. Các nhà văn thế hệ trưởng lão sống trong thế giới khép kín. Họ không có chút khái niệm nào về những gì đang diễn ra chung quanh.

Vì thế cho nên nhà phê bình văn học Hoa Kỳ Jay Rubin nhấn mạnh rằng thái độ phủ định của Oe đối với những sáng tác của Murakami mang dấu ấn của một thế hệ nhất định. Đối với Oe “văn chương thanh cao” liên tưởng tới luận thuyết về cuộc đấu tranh xã hội đặc trưng cho thời kỳ những thập niên sau chiến tranh (40 – 46). Hồi đó, các nhà văn “sống bằng tinh thần đấu tranh chống chiến tranh và chính phủ phát xít” (Japan Quaterly. Oct. – Dec. 1992 P.499 Jay Rubin). Và do đó đối với Oe phản ánh cuộc đấu tranh xã hội đơn giản là một bộ phận không thể tách rời của dòng “văn chương thanh cao”. Nhà văn Naomi Watanabe đồng tình với ý kiến này. Ông còn tự hào nhận mình là “người phê phán kiên trì Murakami”. Trong một bài viết năm 1998, ông quy những sáng tác của Murakami thuộc thế giới hèn nhát, ở đó các nhân vật bằng mọi cách né tránh tiếp xúc với xã hội. Trong bài Đáng yêu Dance, Dance, Dance (1989) nhà phê bình Nhật Bản Takaaki Iôximôtô phê phán Murakami vì tác giả đã tô đậm gam màu khi miêu tả những vấn đề của thế giới đương đại. Iôximôtô đồng ý rằng trong thế giới diễn ra những chuyển biến quan trọng, song không với quy mô như Murakami mô tả trong tác phẩm của mình. Đó chẳng qua chỉ là những tưởng tượng, bịa đặt của nhà văn. “Sau khi đã nếm trải tất cả những thi vị ngọt ngào của cuộc sống, nhà văn đã muốn đưa bạn đọc vào cái thế giới huyền thoại và những vấn đề thần bí” (Iôximôtô Takaaki/ Xinxiô 2/1989 P.239). Thế nhưng, trong một cuộc trả lời phỏng vấn Murakami nói: “Năm 1968 hoặc năm 1969 là thời kỳ lý tưởng, chúng ta có triết lý của chúng ta, chúng ta có chủ nghĩa Mác. Thế nhưng thời điểm đó đã trôi qua. Thanh niên ngày nay không biết phải làm gì, đi đâu, đặc biệt ở Nhật Bản… Giả dụ tôi viết những cuốn sách vào những năm 70, thì có thể không có ai đọc. Sau chiến tranh, hoà bình trở nên tốt đẹp hơn, sống dễ chịu hơn. Thế nhưng không phải mọi chuyện đều đơn giản như thế: chúng ta trở nên giàu hơn, nhưng dẫu sao chúng ta vẫn không biết đi theo con đường nào”.

Trong những tác phẩm của mình Murakami đã lấp đầy những khoảng trống trong tâm hồn của xã hội bằng những vấn đề khả dĩ nêu ở trên. Sách của ông chứa đựng tên nhiều ban nhạc rốc, đĩa hát nhạc jaz, nhãn hiệu xe hơi, bia. Sự tán tụng những đồ vật như thế đã có ảnh hưởng đến thái độ của các nhà phê bình văn học đối với sáng tác của ông. Sự khác biệt ý kiến rất lớn. Oe chỉ thấy cách miêu tả lối sống tầm thường của thanh niên, còn nhà văn Miyôxi Maxao không thích lối phong cách hoá khôn khéo đời sống thường nhật của Murakami. Maxao thậm chí còn tuyên bố rằng “chỉ những kẻ điên mới có thể say sưa ghiền” những tác phẩm của Murakami. Đối với nhà phê bình Kôdzin Karatani hạnh phúc hưởng thụ ở chốn đô thị mà Murakami miêu tả trong tác phẩm vẫn chỉ là mong muốn của nhà văn giới thiệu cho các độc giả nhân vật chính như là “một nhân cách hãn hữu”. Karatani ví “nhân cách hãn hữu” này với “một kẻ bịp bợm” đã từ chối đấu tranh như là một thắng lợi hoàn toàn đối với xã hội.

Thái độ của các nhà phê bình đối với chủ nghĩa vật chất của Murakami cũng khác nhau. Chẳng hạn, nữ văn sĩ Hoa Kỳ Harna Viors Necces cho rằng trong các tác phẩm của Murakami đồ vật “giới thiệu” những gì có trong thực tế, thế nhưng nếu trong tác phẩm có quá nhiều đồ vật thì chúng còn giúp bạn đọc nhận thức được còn thiếu cái gì. Trong trường hợp Murakami, Necces quan niệm, thiếu vắng con người như một nhân cách.

Giáo sư trường đại học tổng hợp Columbia Edward Said đề xuất, nền văn hoá hậu công nghiệp mở rộng khuôn khổ của mình trên phạm vi thế giới đòi hỏi chúng ta phải “xem xét lại một số quan điểm truyền thống của các nhà phê bình Nhật Bản”. Chẳng hạn “có giả thiết cho rằng văn chương chỉ tồn tại trong giới hạn dân tộc và rằng văn chương bao giờ cũng ở trạng thái bất biến…” (Edward W. Said. Globalizing Literary Study: PMLA 2001. P64). Chính Murakami chủ trương toàn cầu hoá nền văn chương trong tương lai. Trong cuộc trao đổi với Jay Mc Enernate, Murakami khẳng định rằng “thế hệ già không hài lòng vì rằng nền văn chương đang tàn lụi… Thế nhưng đâu phải như thế. Đơn giản là những người đương thời của tôi và cả tôi đang cố gắng tạo nên một ngôn ngữ Nhật Bản mới. Nếu bạn muốn đề cập về một cái gì đó mới thì bạn buộc phải nói bằng thứ ngôn ngữ mới”, chung cho cả loài người. Theo Murakami, ông cố gắng làm một việc gì đó để đưa Nhật Bản thoát khỏi sự cách ly về ngôn ngữ mà người Nhật từ lâu tự hào. Ông muốn giao lưu với thế giới còn lại bằng thứ ngôn ngữ mới này. Tất nhiên, Murakami trân trọng vẻ đẹp và sự tinh tế của ngôn ngữ mà Iukiô Mixima sử dụng, song đối với ông “tất cả truyền thống đều thuộc về quá khứ và không thể nào nói lên một điều gì đó thực sự về nước Nhật Bản hiện nay”.

Cho dù thái độ đối với sự nghiệp sáng tác của Murakami như thế nào đi nữa thì ông vẫn là nhà văn Nhật Bản đích thực. Trong suốt cả chiều dài hàng bao thế kỷ, nền văn học Nhật Bản không ngừng phát triển, không hề dẫm chân tại chỗ, các thế hệ nhà văn khác nhau đã đem lại cho nền văn học những gương mặt mới.

(Báo Văn nghệ)

 

 

 

Advertisements

7 responses to “Trận chiến phê bình tác phẩm của Haruki Murakami

  1. Linh October 5, 2006 at 4:25 am

    Sao bạn lại bảo văn học Nhật chưa đạt tới tầm nào?
    Trong thế kỷ 20, Nhật Bản có 2 nhà văn đoạt giải Nobel là Kawataba và Kenzaburo Oe. Có nước châu Á nào được thế không nhỉ? Trung Quốc có 1 nhà văn lưu vong, Ấn Độ có một nhà thơ. Không kể Israel thì là chấm hết.
    Truyện Tale of Genji của Nhật Bản là tiểu thuyết đầu tiên trên thế giới, ra đời trước Don Quixote vài thế kỷ.
    Ngòai ra nước Nhật còn rất nhiều nhà văn nổi tiếng thế giới, như Mishima, Natsume Soseki, Akutagawa, Murakami… Có thể nói văn chương trong thế kỷ 20, Nhật Bản là nước châu Á duy nhất để lại được dấu ấn trong văn học thế giới.

    Like

  2. hoanghuyae October 5, 2006 at 10:30 am

    Biết rồi, nói nhiều quá.
    Ờ mà tớ thấy Nhật Bổn luôn chứa trong mỗi loại hình nghệ thuật 1 nét tinh hoa, kinh điển nào đó (vươn đến tầm triết học của nó), riêng văn học Nhật thì chưa lên đến được tầm đó lắm, phát triển cái khỉ gì, hoành tráng cái khỉ gì ?
    Hờ hờ,mặc dù là tớ đọc ít hơn vợ,nhưng cứ phán phát !

    Like

  3. Linh October 5, 2006 at 11:42 am

    1. Nobel không phải là hoàn hảo. Và tất nhiên chẳng có giải thưởng nào là hoàn hảo cả.

    2. Thế nào là cái chuẩn để bạn lấy mà đo lường “tinh hoa, thành tựu chung của cả nền tảng văn hóa tinh hoa đỉnh cao của nó”.
    Bạn có thể kể tên những tác giả nào trong văn học thế kỷ 20 đạt tới những cái bạn coi là chuẩn mực đó không?.

    3. Tất nhiên gu thẩm mỹ mọi người không giống nhau. Với bạn thì văn học Nhật Bản cũng “thường thôi” và điều này cũng dễ hiểu. Bản thân tôi cũng không phải thích văn học Nhật Bản lắm, cảm thấy nó khó hiểu và khá bế tắc, có thể nói là có gì đó weird nhưng cũng không thể vì thế mà phủ nhận những sự độc đáo của nó và đóng góp của nó cho nền văn học thế giới, nhất là trong thế kỷ 20. Những giải thưởng Nobel được trao cho nước Nhật có thể coi là sự ghi nhận cho những đóng góp đó của văn học Nhật Bản.

    4. Nói thêm nữa về phim của Nhật thì không phải là mãi tới thời anime thế giới mới biết mà đúng hơn là thế giới biết đến từ ngay sau thế chiến thứ Hai. Đạo diễn Kurosawa được coi là một trong vài vị đạo diễn xuất sắc nhất thế giới trong thế kỷ 20, với các tác phẩm để đời như Rashomon, Seven Samurai…Các đạo diễn Nhật Bản đã giành được khá nhiểu giải từ Cannes, Venice cho tới Oscar ngay từ những thập niên 50, 60, một điều mà không có nền điện ảnh nào ngoài Âu- Mỹ làm được.

    Like

  4. Moonie Mun October 6, 2006 at 2:57 am

    Hehe, lại đến lượt mình được phản đối ý kiến. Xưng anh em cho nó có đạo đức phát, vì hình như (chắc chắn) anh hơn tuổi em.
    Em không nói là ĐA Nhật Bản kém, nhưng xét cho cùng, ngay cả đến lúc này, khi nói về điện ảnh NB, đa số các nhà phê bình or nghiên cứu phim chỉ có thể nói đến Kuroshawa, Ozu và Mizoguchi. Và hơn nữa, em cũng muốn cải chính thêm là không phải sau chiến tranh thế giới thứ hai, mà ngay từ những năm 30, ĐA NB đã có sự phát triển rồi. Kurosawa và những bộ phim của ông sở dĩ được nhiều người biết tới (nhất là người Mỹ) vì phim của ông hơi giống film noir trong những năm 40 của Mỹ. Thêm vào đó, chính xác là ĐA NB được biết tới sau bộ phim Rashomon của Kurosawa được giải quốc tế (chẳng nhớ là ở Cannes hay Vernice nữa.)
    Nhưng em đang nói về tính đại chúng. Ozu còn được các nhà phê bình phim ca ngợi hơn cả Kuroshawa, Mizoguchi còn hoành tráng hơn cả Ozu… Nhưng đại chúng thế giới vẫn không biết nhiều về những người này, những cái tên đó nằm ở trong sách lịch sử điện ảnh (Ngay cả những người xem phim nhiều chưa chắc đã biết hay xem phim của họ). Cái mà đại đa số người ta hình dung về điện ảnh NB bây giờ, vẫn là Anime. Em cho là thế!

    Và đó chính là cái mà Murakami làm được, tạo nên những tác phẩm quốc tế hóa, những cuốn sách không chỉ người Châu Á mà cả người Châu Âu cũng yêu thích.

    Like

  5. Moonie Mun October 6, 2006 at 6:59 am

    Hic, chồng ơi, cậu Downy thật mất rồi. Như bạn Linh nói, tớ chả nói lại làm gì. Thực ra văn hóa NB lâu rồi vốn bế quan tỏa cảng hơn các nước khác, cũng như phim của họ, phải đến thời Anime thì cả thế giới mới để ý đến, trong khi trên thực tế đó là nền điện ảnh lớn nhất Châu Á trong những thời kì đầu.
    Giọng điệu của cậu như mấy bác phán về Rừng Nauy bên TL. Cái gì thì cái, tớ ghét nhất họ điểm đấy, lúc nào cũng có tư tưởng ném tất cả xuống đất một cách vô tổ chức!

    Like

  6. hoanghuyae October 6, 2006 at 8:31 am

    Ô hay, tớ đang nói đến những tinh hoa, thành tựu chung của cả nền tảng văn hóa tinh hoa đỉnh cao của nó, chứ có xét riêng đâu. Tất nhiên cái giải Nobel không thể nói hết được phần nào. Ý kiến chủ quan thôi, tớ có đọc một ít Kawataba, Mishima (cả Murakami,tất nhiên)… nhưng nói thật, chưa thuyết phục một người (hâm hâm) như tớ (hị hị)

    Nhân tiện, tớ cũng công nhận giải Nobel nhiều khi không phải là giải thưởng hòan hảo !

    Like

  7. Moonie Mun October 6, 2006 at 8:38 am

    Hehe, tớ cũng công nhận là Nobel không phải là tất cả. Hehe, nhưng không phải vì thế mà nói rằng văn học Nhật chưa đạt tới tầm văn hóa Nhật. Ack, mà sao lại phải tách một phần của A thành cái không phải A nhỉ?
    Tớ sẽ không nói về Murakami, dù sao ông ta vẫn là một nhà văn trendy, chưa thể ngay lập tức khẳng định. Nhưng chỉ kể đến Kawabata thì cũng có thể coi là một đỉnh cao rồi. Lâu nay người Việt mình ít chú ý đến Nhật, đâm ra họ vẫn là một thứ xa lạ.
    Mà nữa nhá, tớ phải công nhận là thị hiếu của tớ và cậu khác nhau. Cậu ko mê Tàu, ghét bọn Tàu, nhưng tớ vẫn thích. Những nhà văn Nhật làm tớ khoái chí, nhưng cậu chẳng thấy rung rinh, thì cũng như cậu thích Vấn tóc còn tớ thì ghét đặc, cậu khen 50 first dates còn tớ thì thấy nó thường thôi. Hừm, nhưng dù sao, ko thể vì thế mà bảo họ chưa đạt tới đỉnh cao tinh hoa được.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: