Giết hay không giết

Thực ra cái entry này đã bắt đầu được viết từ hôm tôi đọc được bài viết về chuyện người ta trói hai người ăn trộm chó để sỉ nhục, cảnh báo cho những kẻ khác. Hàng trăm comment xuất hiện trong cái link ấy, kẻ ủng hộ việc đập cho bọn trộm chó một trận, người thương cảm, người thì bảo bao nhiêu đứa bị đánh, bị thiêu chết kia, bị bêu riếu thế còn là may. Khi có những người nói rằng trộm chó cũng là người, cùng cực mới làm việc ấy, sẽ có những người khác kể ra chuyện đã có những tên trộm chó cầm mã tấu, nếu ai ra cứu chó thì sẽ bị doạ chém, đánh.
Nếu bạn hỏi tôi, rõ ràng tôi sẽ biểu quyết cho việc tha thứ. Nếu đất nước này bớt ăn thịt chó lại, thì việc chó bị ăn trộm cũng sẽ bớt hơn. Tất nhiên, không phải con chó nào bị bắt cũng bị làm thịt. Một phần trong số chúng sẽ được bán lại. Đó là những con chó thuộc giống quý. Kỳ lạ chưa, khi con người cố gắng tôn vinh sự bình đẳng, thì họ vẫn vô thức biết rằng có một số con chó quý hơn các con khác.

Tôi cũng từng nuôi chó, nhà tôi cũng từng bị mất trộm chó, nhưng tôi không thể vì thế mà đồng tình với việc đánh chết những người đi ăn trộm chó.
Thế nhưng, trộm chó là chuyện tôi sẽ còn nghĩ về dài dài, không chỉ dừng lại ở đó. Cuộc tranh luận quanh chuyện có nên bêu riếu hay đánh chết người trộm chó hay không, thực ra khiến tôi nghĩ tới một chuyện khác, chuyện về đám đông.

Cách đây chừng năm bảy năm, ở quê nhà của tôi xảy ra một chuyện. Một nhóm học sinh cấp 3 tụ tập lại đánh một học sinh khác. Nhóm đó cầm đầu bởi mấy đứa trẻ mới lớn, con em của những gia đình sống bằng nghề trộm cướp, đánh người. Thế nhưng tình cờ thay là một thành viên trong nhóm ấy lại là con của một gia đình hiền lành sống gần nhà tôi. Trong trí nhớ của tôi, em là một cậu bé xinh trai và ngoan ngoãn. Dù vậy, vụ bắt nạt, đánh bạn đã diễn ra. Nạn nhân bị bị đá trúng chỗ hiểm và chết. Người thực hiện cú đá cuối cùng ấy lại là cậu bé mà tôi quen. Đó là một câu chuyện giống như trong những bộ phim tuổi teen của Mỹ mà người ta vẫn xem. Cuối cùng thì cậu bé phải đi tù, dù không bị kết tội quá nặng vì cậu không tham gia vụ ẩu đả từ đầu. Những đứa trẻ khác, kẻ thực sự gây ra vụ việc, hoàn toàn không bị hề hấn gì, có thể là bị đuổi học, nhưng có lẽ bản thân chúng cũng chẳng muốn học nữa.

Trong một vụ tấn công của đám đông nhằm vào một cá thể, bao giờ cũng có người gây ra đòn chí tử, nhưng tất nhiên, ai cũng biết anh ta không phải kẻ duy nhất chịu trách nhiệm. Trách nhiệm thuộc về đám đông kia, mà một khi đã thuộc về đám đông tức là nó không thuộc về ai cả. Không ai bắt giam cả cái làng đã thiêu người ăn trộm chó.
Các bạn chắc cũng đã nghe quá nhiều về tâm lý bầy đàn, và bạn cũng thường phản đối nó, coi đó là hành động của những kẻ ngu xuẩn. Nhưng phải nói thật, để sống không bầy đàn, bạn cần phải có một lòng dũng cảm lớn. Để nhận thức ra việc mình cũng có trách nhiệm khi đám đông gây ra chuyện cũng cần lòng dũng cảm lớn. Đó là điều tôi luôn suy nghĩ trong suốt năm 2012.

Tất cả những điều ấy lại quay về với tôi vào hôm nay, khi tôi đọc bài viết trên blog của Nhị Linh hay dịch giả Cao Việt Dũng. Dù thú thật là tôi không phải người hâm mộ các bản dịch của anh CVD vì với tôi chúng khá Tây và hơi khô khan, nhưng blog của anh vẫn khiến tôi rầu lòng. Tôi sẽ không bàn gì đến những chuyện riêng tư mà NL kể ra trên blog của mình vì tôi tiệt chả biết gì cả. Tôi chỉ nhân cớ ấy mà nói về việc dịch của chính mình mà thôi.

Đã từ lâu, khi bắt đầu dịch cuốn sách thiếu nhi đầu tiên, tôi đã nói với bản thân rằng hãy ngoảnh mặt khỏi những thị phi. Tôi cũng thuộc loại người dịch còn lâu (nếu không nói là không bao giờ) trở thành một tên tuổi lớn. Có lẽ không ít người dịch sách cũng như vậy, chỉ luôn coi việc đó là một phần của đời mình, cái phần làm cho đời họ đầy đủ. Cá nhân tôi chỉ dịch sách dễ, chủ yếu là sách thiếu nhi, tôi không muốn việc dịch làm tôi lao tâm khổ tứ, cũng không muốn xa rời khỏi thế giới của trẻ em. Cho đến nay, tôi vẫn được nhiều người biết đến qua cái blog này hơn là việc dịch sách. Nói đến bút danh của tôi, đa số các dịch giả khác đều chưa nghe bao giờ. Và nói thật, chuyện đó làm tôi vui hơn là buồn. Tôi vừa là người trong cuộc, vừa là người ngoài cuộc theo cách ấy.

Và cũng chính vì thế, tôi không bao giờ lên tiếng chê bai các dịch giả khác. Bởi vì là người trong cuộc, tôi biết rõ áp lực cơm áo gạo tiền mà họ phải đối mặt. Chuyện đồng lương của người dịch sách rất ít ỏi là điều ai cũng biết. Một cuốn sách tôi dịch mấy tháng, tiền công chưa bằng nửa tháng lương tôi đi làm. Cuốn sách thiếu nhi tôi dịch mất 2 tháng, chỉ bằng tiền một bộ phim tôi dịch trong ba ngày.
Là người ngoài cuộc, tôi có thể nói là một khi đã thấy nghèo, thấy làm không nổi, thì có quyền bỏ đi làm nghề khác cơ mà. Than thở gì lắm thế? Nhưng vẫn có những người chọn ở lại. Và tôi trân trọng họ vì điều đó. Cũng như tôi trân trọng những người bám lại với đất vườn trong khi họ có thể chọn lên thành phố làm những công việc có thể ko vinh quang nhưng vẫn nhàn hạ, nhiều tiền hơn.
Tuy vậy, tôi không phản đối việc phê bình các bản dịch. Bản thân tôi không ít lần tranh luận với người khác để bảo vệ cho giá trị của những người làm phê bình. Nếu ai đó từng nói độc giả phải biết ơn dịch giả, thì cũng nên nói thêm là độc giả cần biết ơn nốt người phê bình nữa. Và tất nhiên, người đáng được biết ơn nhất vẫn là độc giả.

Đã cố giữ cho mình sự trung dung ba phải ấy, nhưng gần đây tôi vẫn thấy mình lon ton chạy theo hóng hớt các cuộc tranh cãi về các bản dịch. Và tôi thấy rầu. Tôi thấy rầu trước sự hăng say của các cá nhân hợp thành một đám đông kỳ lạ. Và như tôi đã từng viết một lần, tôi cảm thấy rất lạ lùng khi người ta lại lôi chuyện đời tư cá nhân ra để rủa xả khi bàn về chuyện dịch. Không có cuộc đời của ai trọn vẹn (và như thế nào là trọn vẹn?). Tôi nhìn vào những cuộc tranh cãi và nhận thấy trong đó đầy ác ý. Những ác ý ấy làm tôi cảm thấy mình không nên tiếp tục quan tâm đến nữa.

Nhưng, rồi tôi lại quan tâm.
Bởi vì dù ít dù nhiều, tôi vẫn ở trong thế giới ấy. Tôi rất phẫn nộ khi đọc những lời của kẻ khác nói về chuyện học tập của cụ Dương Tường, coi cụ là đứa võ vẽ mấy từ ngoại ngữ chỉ lo đi lòe thiên hạ. Tôi cũng kinh ngạc khi thấy những người có ăn có học, thậm chí có thể còn là giáo sư này nọ, đi bình luận về chuyện Cao Việt Dũng có bằng cấp thật hay chỉ ăn tục nói phét với thái độ miệt thị. Bạn có quyền phê phán một bản dịch, nhưng đặt hằn học cá nhân vào đó và tấn công vào cá nhân người dịch là một điều không thể chấp nhận được. Có một loạt dịch giả mà tôi thấy tên là không buồn cầm sách họ dịch lên đọc, nhưng điều ấy không có nghĩa họ là những kẻ đáng bị tôi xỉ vả, bới móc.

Xét về mặt tuổi tác, tôi là trẻ con với những người phê bình đó. Xét về mặt học vấn, tôi chỉ là một đứa dốt nát. Xét về mặt địa vị xã hội, tôi là người không rõ nằm ở xó nào so với họ. Tuy nhiên, tất cả những điều ấy, tuổi tác, học vấn, địa vị xã hội, không giúp cho người ta có một cách ứng xử khác đi với đồng nghiệp. Điều ấy có đáng buồn hay không? Những người trẻ tuổi như tôi sẽ học được gì từ cách tranh luận của các tiền bối? (Tất nhiên, vẫn có những người tranh luận và phê bình một cách hợp tình hợp lý, và tôi nghĩ mình nên học từ họ).

Thành thật mà nói, tôi không ủng hộ việc anh CVD đem các câu chuyện cá nhân ra để đả kích ngược lại như thế một chút nào. Tôi vẫn luôn nghĩ cách tốt nhất để đối chọi lại với những viên đá là không để cho ai có cơ hội ném đá mình bằng cách trở nên hoàn thiện. Nhưng xét cho cùng, trong một thế giới mà chuyện chuyên môn dường như được đặt xuống thấp, chuyện cá nhân được đặt lên cao, thì sao rồi cũng ra vậy mà thôi. Trong một đám đông mà nạn nhân cũng có lúc cũng là người tấn công, thì có bàn tay nào là không có trách nhiệm. Kể cả chính tôi đây.

Tôi nhớ có lần đi với BC đến gặp bác Ngô Phan Lưu, nghe bác kể về chuyện mùa lụt đến, cả nhà bác cuống quýt khiêng đồ đạc lên lầu trên. Rồi bác hân hoan kể chuyện cô học trò cũ sống bên Mỹ đã gửi về biếu bác 500USD để bác sửa chữa lại nhà cửa sau cơn lụt. Khi ấy, tôi tình cờ quay sang nhìn BC, khuôn mặt bạn hiện lên rõ sự thương cảm và bất lực.
Bây giờ, mỗi khi có một dịch giả nào đó bị tấn công dồn dập, tôi lại nhớ đến bác Ngô Phan Lưu khi đó. Như thể dịch giả ấy cũng phải đối chọi với một cơn lụt mà cách duy nhất là họ ôm được tất cả những gì có thể và trốn lên cao.

Và có thể, để trở thành một nhà văn, một dịch giả thực sự, có lẽ cũng nên làm như bác Ngô Phan Lưu, bỏ lại tất cả, trở về làm ruộng, chỉ biết đến công việc của mình, bỏ lại tất cả ra đằng sau.
Và khi không làm được thế, thì tốt nhất là nên bỏ hẳn thứ việc ấy. Tôi nghĩ mình đã quyết định chọn cách thứ hai.

Lại viết tiếp: Nhân một bài viết về Ngải Vị Vị

Hay là để trả lời câu hỏi số 2: Làm thế nào để nhận định rằng một tác phẩm là nghệ thuật hay không nghệ thuật?

Cách đây ít lâu, nghệ sỹ Đào Anh Khánh đã tạo ra chút tin tức khi màn trình diễn của anh trên bãi đê sông Hồng bị người dân phản đối và xua đuổi. Tôi, công dân của một nước dân trí thấp, không có cơ may hiểu hết được cái đẹp trong nghệ thuật biểu diễn của anh. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn không có ác cảm gì với anh Đào Anh Khánh. Tôi nghĩ chừng nào anh còn sức để cố gắng và không ảnh hưởng đến ai, thì anh diễn gì cứ diễn. Lần này anh dẫm lên ruộng nhà người ta, bị đuổi là một lẽ bình thường. Tuy nhiên, điều đáng nói là tôi thấy khi anh chẳng dẫm lên ruộng nhà ai, thì có không ít người vẫn bình luận về anh là: “Nghệ thuật gì cái trò ấy?”. Vậy thì thế nào mới là nghệ thuật?

ImageHandler.ashx

Đào Anh Khánh trong màn biểu diễn trên bãi sông Hồng.

Trong bài viết về Ngải Vị Vị mà tôi nhắc đến ở đây, tác giả có nói đến một chuyện là liệu các tác phẩm của ông Ngải có xứng đáng được coi là có giá trị nghệ thuật. Theo ý của tác giả thì ông Ngải không làm được gì đáng kể, các tác phẩm của ông đều rất vớ vẩn, chỉ có các công trình kiến trúc là khá khẩm. Tuy nhiên, kiến trúc có phải là nghệ thuật hay không?

Đây không phải lần đầu tiên tôi gặp phải câu hỏi kiểu ấy.
Khi tôi còn làm việc ở HB, đã nhiều lần tôi đọc các bài phỏng vấn, bài viết… về chuyện thời trang có phải là nghệ thuật hay không. Câu trả lời của bất cứ ai cũng lòng vòng rồi rơi vào ngõ cụt, vì hầu hết họ đều không thể định nghĩa thế nào là nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật có thể là thứ người ta mặc lên người hay không?

Và nếu thời trang không thể là nghệ thuật vì chúng được sản phẩm được sản xuất hàng loạt (đi ngược lại với điểm chung của tác phẩm nghệ thuật là sự độc nhất) thì những trang phục couture có thể được coi là nghệ thuật hay không? Và bên cạnh đó, tác phẩm của Andy Warhol, thứ có thể in tành tạch ra, có phải là nghệ thuật hay không?

Tiếp tục, chẳng hạn ông Ngải và chuyện mấy cái bình thời Hán. Việc ông nhúng bình cổ vào sơn, đặt lên bàn cho mọi người đến ngắm, có phải là một sáng tạo nghệ thuật hay không? Và nếu coi đó tác phẩm nghệ thuật, thì liệu công trình kiến trúc của ông có thể cũng được coi là nghệ thuật (rõ ràng là trong trường hợp này, ông bỏ công sức ra nhiều hơn việc nhuộm mấy cái bình)?

Hay, quay trở lại với trường hợp Đào Anh Khánh, việc anh múa, cố gắng tái hiện lại khung cảnh lễ hội cũ giữa đường đi lối lại có phải là một hoạt động nghệ thuật hay không? Và dù người ta có thể cười vào những gì anh Đào Anh Khánh đang làm nhưng không cười vào một cái đầm cầu kỳ kiểu cách mà chẳng biết ai có thể mặc của Alexander McQueen, thì ở một mặt nào đó, cả hai điều này đều tương tự như nhau. Dù chúng ta đều có thể đoán được rằng mấy cái đầm không ai dám mặc của McQueen có thể được đưa vào bảo tàng, còn Đào Anh Khánh thì chưa ai rõ xã hội sau này sẽ nhìn nhận về anh ra sao, nhưng điều đó không phải là cơ sở để nói rằng McQueen là nghệ thuật còn Đào Anh Khánh thì không.

Tiếp tục so sánh Đào Anh Khánh với một hiện tượng khác. Gần đây, một số bạn sinh viên đã tổ chức một màn biểu diễn tập thể. Họ kéo ra đường, đeo mặt nạ, đứng bất động. Màn biểu diễn ngụ ý nhắc nhở về sự vô cảm của con người thời hiện đại. Nếu bạn so sánh thông điệp của các bạn sinh viên này và thông điệp của màn biểu diễn trên đê sông Hồng của Đào Anh Khánh (gợi nhắc lại không khí lễ hội ngày xưa), cái nào có thể được coi là nghệ thuật, hay cả hai đều là nghệ thuật?

mat-na4

Các em sinh viên đeo mặt nạ để nói lên bài học về sự vô cảm của con người hiện nay

Khi tôi nói đề cập đến câu hỏi này trong bài viết trước, bạn N.Q.Trang và Q.H.Lân đã đưa ra mấy câu trả lời. Ví dụ như đoạn sau: Để phân biệt một tác phẩm là nghệ thuật hay không nghệ thuật thì KHÔNG có một nguyên lý nào cả: người ta thường dựa vào trực giác và năng lực cảm thụ nghệ thuật của chính mình, năng lực đó được hình thành thông qua quá trình học hỏi và cảm thụ từ những tác phẩm kinh điển đã được thừa nhận rộng rãi (chính là cảm thụ theo kinh nghiệm).
Thế nhưng, trong câu trả lời của bạn Lân khiến tôi lại có một câu hỏi mới. Giả sử bây giờ bạn trai tôi vẽ cho tôi một bức chân dung. Bạn tôi không phải là hoạ sỹ chuyên nghiệp, nhưng trong giới hạn của mình, bạn đã hết sức cố gắng. Bức tranh của bạn làm tôi vô cùng xúc động. Và vì xúc cảm ấy, vì tình cảm của tôi luôn dành cho bạn, tôi thấy nó thật đẹp. Tôi đóng khung treo trong phòng, nơi trang trọng nhất. Điều ấy có khiến bức tranh ấy thành một tác phẩm nghệ thuật theo quan điểm chung được không?
Rõ ràng là không! Bởi vì nếu mọi tác phẩm như vậy đều là nghệ thuật thì không có cơ sở gì để chúng ta phân biệt các tác phẩm nghệ thuật ra khỏi những tác phẩm home-made khác.

Tiếp tục với một ví dụ khác, Yasuyoshi Sugiura, một nghệ sỹ điêu khắc gốm Nhật Bản nổi tiếng với các tác phẩm giống y như thật. Khi tôi post ảnh chụp tác phẩm bằng gốm của ông lên Facebook, một số bạn đã không thể nhận ra đó là tác phẩm nhân tạo chứ không phải một bông hoa có thật.
Vậy thì giả sử, thay vì làm mực giả, trứng giả, gạo giả đem bán, mấy người bên Trung Quốc tổ chức triển lãm “A Fake World” và cho treo, cho bày tất cả những sản phẩm đó lên, thì bạn có thấy chúng có gì khác so với nghệ sỹ Nhật Bản kia không?

1834_10200844089164471_632158321_n

Tác phẩm gốm của Yasuyoshi Sugiura

Những câu hỏi này có thể đặt ra cả ngày không dứt.
Và tuy tôi không thể trả lời, nhưng có một câu chuyện mà tôi có thể kể. (Tôi vừa đọc xong một cuốn sách mà tác giả dành rất nhiều trang viết để kể lại tác phẩm của người khác, nên tôi sẽ bắt chước).
Trong một cuốn sách của Giả Bình Ao, cuốn gì tạm thời không nhớ tên, có nhắc tới một bức tượng cung nữ nọ. Cô giúp việc nhà ấy hàng ngày vẫn lau dọn quanh bức tượng ấy, cô cảm thấy nó dường như cũng có tri giác. Có lần, cô còn có cảm giác nàng cung nữ được đúc bằng sứ kia nháy mắt với mình. Tóm lại, giữa họ, một cô giúp việc và một bức tượng cung nữ (một dạng giúp việc khác), có một sự đồng cảm nào đó. Sự đồng cảm ấy tạo nên cái hồn cho bức tượng, cho nó có những cảm xúc, và nó được thoát khỏi việc làm vật vô tri. Nghệ thuật, xét cho cùng, là tạo ra xúc cảm, thông điệp… từ những chất liệu thực chất không có xúc cảm hay thông điệp. Và nó sẽ gợi cho bạn liên tưởng tới những điều khác. Ví dụ, từ chuyện bức tượng của mỹ nữ:
Nghĩ mà xem, nếu không phải vì tình yêu, thì sao cậu bé Pinocchio có thể biến thành người?
Và nếu không phải vì ta yêu cậu bé mũi dài ấy, thì làm sao ta có thể nghĩ đến cậu luôn theo cách nghĩ về một cậu bé chứ không phải về một con rối gỗ?

Thế nhưng, chuyện cảm xúc và tình yêu không phải là chuyện tôi thực sự muốn nói đến, đoạn về cô giúp việc và bức tượng kia có chính xác hay không tôi cũng chẳng dám chắc nữa. Nhưng có một điều quan trọng là đoạn viết ấy của Giả Bình Ao (thứ mà tôi đã đọc cả chục năm trước) vẫn luôn ở lại trong tâm trí tôi và luôn khiến tôi nghĩ đến những điều tương tự, những câu chuyện tương tự, những thông điệp tương tự. Và mỗi lần tôi cảm thấy dường như mình đã tạo ra được một mối liên kết về tinh thần với một con người xa lạ, một món đồ vật, một cái cây, một viên sỏi… tôi lại nghĩ đến cô cung nữ bằng tượng kia.
Vậy thì trong quan niệm của tôi, việc phân biệt giữa một tác phẩm nghệ thuật và một thứ không phải là nghệ thuật chỉ là ở việc các tác phẩm nghệ thuật khiến tôi liên tưởng đến những thứ tương tự, những thứ tôi đã gặp, đang gặp và chưa gặp. Nó giúp tôi nhìn ra những điều không tương tự, những điều không liên quan đến nó. Nó kể cho tôi nghe câu chuyện về nó, và giúp tôi nghĩ ra những câu chuyện mà nó không hề biết đến.

Và tất nhiên, điều quan trọng nhất, một tác phẩm nghệ thuật là một thứ làm tôi ngỡ ngàng vì nhìn thấy nó. Biết rằng nó không phải là thứ  có thể dễ dàng nhặt lấy ở bất cứ  đâu. Như bức tượng con thỏ bằng thạch cao này chẳng hạn.

485910_10200458452763802_1446215265_n

Tác phẩm “Husk” của Beth Cavener Stichter.

Nếu một con mực giả ngoài chợ mà làm được điều ấy, làm tôi nghĩ đến những câu chuyện khác chứ không phải là một con mực thì nó cũng là tác phẩm nghệ thuật vậy.

So sánh nhảm về hai bộ phim Oz

(Cảnh báo SPOILER! Bài viết hé lộ nhiều chi tiết trong nội dung của cả hai bộ phim)

The Wizard of Oz (1939) – trong trí tưởng tượng của các nhà phê bình sau mấy chục năm thì có tới mấy chục tầng ý nghĩa. Trong số các ý nghĩa đấy, có một ý nghĩa hiển hiện qua mạch truyện là Dorothy, dù được cuốn đến một nơi tươi đẹp, được tặng cho cả một đôi giày đỏ chót óng ánh, thì vẫn thấy “Không nơi đâu bằng nhà”. Điều này được nhấn mạnh hơn một chút vì Dorothy sống ở vùng Kansas khắc nghiệt. Xứ Oz khi ấy không chỉ là một chốn thần kỳ trăm hoa đua nở, mà còn là thế giới của sự phù phiếm. Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, Dorothy vẫn chọn gia đình mình và bầy lợn.

the-wizard-of-oz-original

Oz: The Great and Powerful – cũng có sự đối lập giữa Kansas, cuộc sống nghèo nàn của anh chàng Oz và đống vàng bạc, ngọc lục bảo của xứ Oz. Tuy nhiên, vì phim sẽ có phần hai, nên chàng Oz đã chọn ở lại với vàng bạc và gái đẹp chứ không về đâu cả. Chưa kể, điều quan trọng là Oz không có nhà để trở về. Anh ta là một nhà ảo thuật diễn rong, và giữa việc chọn gắn bó với một cô Annie nông dân mặc áo vải bông và Glinda Nhân từ mặc áo đính pha lê Swarovski (nhan sắc, trí thông minh và lòng tốt y hệt nhau) thì tất nhiên anh ta chọn người thứ hai.

Oz_The_Great_and_Powerful-796185493-large

So sánh nhảm giữa hai bộ phim lấy chung một concept này chỉ để cho thấy sự khác nhau của hai dạng quan điểm sống. Có thể, cũng như Dorothy, Oz chỉ nằm mơ thấy xứ Oz (cái hint này xuất hiện trong câu “Hẹn gặp lại em trong mơ” với Annie), tuy nhiên, Oz chọn sống trong ảo tưởng. Nhưng nếu chúng ta nghĩ kỹ hơn về chuyện này, chúng ta sẽ thấy trái ngược với Dorothy, Oz không có lựa chọn.

Trang trại ở Kansas của Dorothy có tất cả những gì cô bé cần: Tình yêu, sự gắn bó, sự ổn định về tài chính, gia đình, những người bạn (nhân công trong trang trại), thứ cô phải chịu trách nhiệm (con chó Toto). Và điều quan trọng là cô bé yêu tất cả những điều ấy… Còn Oz, anh ta không có gì hết, không gia đình, không tiền, không chịu trách nhiệm với ai, anh ta có Annie và người trợ lý (gia đình và bạn bè tiềm năng) nhưng anh ta không gắn bó với họ. Tóm lại, việc Oz từ bỏ xứ thần tiên để quay lại Kansas là một việc vô nghĩa lý. Anh ta chỉ chuyển từ trạng thái mơ mộng về một sự vĩ đại sang trở thành vĩ đại trong một giấc mơ.

Và nếu coi hai bộ phim của hai thời đại là một phần gương mặt đời sống, bối cảnh lịch sử mà chúng ra đời, ta sẽ thấy đời sống của năm 2013 mất đi những giá trị cơ bản mà những năm 1939 từng có. Và giả sử đem áp dụng concept Kansas vs Oz vào cặp đôi Đời thực vs Mạng xã hội, thì bạn sẽ thấy những người sống năm 1939 không cần tới mạng xã hội vì họ vẫn bám rất chắc vào các giá trị đời thực. Trong khi đó, chúng ta có thể sẽ từ chối những tiềm năng giá trị trong đời thực để bám vào mạng xã hội, nơi chúng ta có thể “being great” và tìm được những thứ ta yêu tại thế giới ảo.

oz-great-powerful

Không chỉ thế, The Wizard of Oz cho thấy một câu chuyện về sự trưởng thành. Dorothy cũng như mọi đứa trẻ khác, sẽ đến lúc phải đối mặt với một biến cố (cơn bão), tách rời khỏi sự an toàn của thế giới trẻ con, đối mặt với những thử thách của thế giới người lớn. Oz: The Great and Powerful cũng như vậy (Hollywood đầy rẫy những bộ phim bàn về coming of age ở độ tuổi muộn, từ Knock up tới The Descendant).

Tuy nhiên, sự khác nhau của Dorothy và Oz là ngay từ đầu cô bé đã có những phẩm chất tốt và cô biết rõ điều ấy (cô giúp đỡ bù nhìn rơm, người thiếc và sư tử đúng theo cách cô giúp đỡ những người khác ở Kansas). Trong khi đó, Oz không cần biết mình có tốt hay không nhưng anh ta không mong mình trở thành người tốt. Anh ta muốn làm người vĩ đại. Nhưng rồi anh ta nhận ra, sự vĩ đại phải đi cùng với một mục đích tốt đẹp. Làm người vĩ đại, trước hết phải là một người tốt.

Cả hai bộ phim đều xây dựng ra một nhân vật chính tuyệt vời vì cuối cùng họ đều đạt được điều mình muốn song song với việc giúp đỡ kẻ khác. Tuy vậy, có vẻ như Dorothy chẳng đặt ra câu hỏi nào cho bản thân mình cả. Sự tìm kiếm của cô bé chỉ đơn giản là một cách chấp nhận mình đang lớn lên và mình sẽ phải can đảm (cùng với các giá trị sẵn có) đối mặt với những thử thách chờ đợi mình. Ba nhân vật đồng hành còn lại cùng Dorothy là một bổ sung cho việc ấy, vì họ chỉ đi tìm sự xác nhận cho những phẩm chất mà họ đã có sẵn từ đầu (trí thông minh của bù nhìn, lòng dũng cảm của sư tử và trái tim của người thiếc).

Oz, tất nhiên là giống chúng ta hơn, giống trẻ con hơn Dorothy, vì anh ta chẳng rõ anh ta muốn gì khi bắt đầu cuộc hành trình. Cuối cùng thì anh ta đã tìm ra, và khi ấy anh ta có hạnh phúc, anh ta biết mình là ai, giá trị của lòng tốt, xác nhận lại điều anh ta luôn bô bô nói là sức mạnh của lòng tin… Tuy vậy, chính vì Oz không hề quay lại Kansas, nên bộ phim năm 2013 mất đi tính trọn vẹn của nó. Không ít khán giả sẽ tự hỏi: “Ồ, vậy là hắn ở lại đây luôn?”. Việc học ra được những bài học về giá trị và ý nghĩa của bản thân, vốn không phải là để phục vụ cho việc chúng ta tiếp tục sống trong ảo tưởng. Việc anh ta nhận ra giá trị của lòng tin không giúp cô bé ở Kansas có thể đi lại, nó chỉ có thể chữa lành chân cho một cô búp bê ở xứ Oz mà thôi.

Và dù coi tất cả những so sánh ở trên đây chỉ là những suy nghĩ nhảm nhí, ta vẫn phải quay lại với câu hỏi, có phải đây là thời đại mà việc sống trong ảo tưởng được đặt lên cao hơn là cuôc đời thực sự hay không? Và tệ hơn nữa, có phải đời thực cũng đang dần mất đi các giá trị hay không?

Viết tiếp: Nhân một bài viết về Ngải Vị Vị

Khi chưa kịp viết tiếp entry trước như dự định, tôi đã đọc được bài này của bạn Cầm Bùi, và quyết định đem ra đây như một ví dụ. Quan điểm của bạn Cầm Bùi (hay còn được biết đến với bút danh Phan An) là điều không bàn đến ở đây, cái tôi chú ý đến chỉ là việc bạn viết bài và các comment ở trong đó. Tất nhiên, tôi không xếp bài viết của Cầm Bùi vào nhóm đấu tranh hay gì cả, nhưng bạn (với tư cách được biết đến là một nhà văn) bàn đến một vấn đề chính trị, thì vẫn có thể coi là chung phạm vi mà tôi đang nghĩ. Và các phản ứng quanh bài viết của bạn cho thấy khả năng ảnh hưởng của một tác giả lên một nhóm người khác, có kẻ coi lời ấy là nghiêm trọng hơn lời người khác, có người nói đó chỉ là mấy dòng bức xúc của một anh nghệ sỹ.

Quay trở lại với hai câu hỏi đặt ra nhân trường hợp Ngải Vị Vị. Thực ra, tôi không hề có ý định đi tìm câu trả lời chính xác cho cả hai câu hỏi trên, vì trên thực tế, ai cũng biết những câu hỏi như vậy sẽ không bao giờ có câu trả lời chính xác.

Câu hỏi số Một (Nghệ sỹ nên đấu tranh bằng lời hay nên tập trung sáng tạo nghệ thuật?) thực ra đã manh nha với tôi từ ngày tôi học phổ thông. Thời điểm ấy, tôi có học với một số người đặc biệt ghét ông Tố Hữu. Tôi tất nhiên không ghét ông Tố Hữu vì chưa gặp ông ấy bao giờ, tôi chỉ ghét phải học thơ của ông. Và như hầu hết các học sinh khác, tôi không thích những tác phẩm như kiểu Mùa lạc, Vợ chồng A Phủ… Sau này, khi nghĩ lại, tôi nghĩ cái sự ghét của tôi không nảy sinh từ việc tôi “phải học” những cái đó (vì tôi cũng phải học rất nhiều tác giả khác và tôi không ghét, mà tôi yêu họ). Có lẽ, sự  ghét đó của tôi nảy sinh từ việc tôi cảm thấy các tác phẩm ấy không được sinh ra để phục vụ cho chính nó mà phục vụ cho một điều khác. Tôi ghét các tác phẩm sinh ra để làm việc khác chứ không xuất phát từ nhu cầu được sáng tác của tác giả.

Tôi vẫn nghĩ mãi về chuyện ấy, nếu đấu tranh được coi là một mục đích khác thì tác giả nên tập trung vào việc sáng tác, hay tập trung vào việc đấu tranh. Và sáng tác có phải là một phần của đấu tranh hay không?

Cảm giác “ghét” ấy ở lại với tôi cho đến bây giờ. Nếu bất cứ một tác phẩm nào mà tôi cảm thấy việc nó được tạo ra không phải vì chính nó và người tạo ra nó, mà vì mục đích sử dụng nó để tác động lên tâm trí và suy nghĩ của kẻ khác nhằm lôi kéo họ về một phe, cho dù lý tưởng ấy là thế nào đi nữa, tôi đều từ chối không ngó tới lần nữa. Một bài thơ, chẳng hạn thế, nếu được viết ra để bày tỏ nỗi uất ức của một thi sỹ trước bất công của xã hội là một bài thơ thực sự. Nhưng nếu bài thơ ấy được viết ra vì cấp trên yêu cầu, Đảng yêu cầu hay vì bản thân nhà thơ ấy muốn giáo huấn và lôi kéo kẻ khác về phe mình (dù phe đó tốt hay xấu), thì đó không còn là một bài thơ thực sự nữa.

Tất nhiên, rất khó phân biệt được giữa một tác phẩm-được tạo ra vì-nhu cầu sáng tạo tự thân-của chính tác giả và một tác phẩm-được tạo ra vì-nhu cầu tác động-đến kẻ khác (những tác phẩm dởm ói thì không cần bàn đến vì nó chẳng tác động đến ai). Dẫu vậy, tôi tương đối dị ứng với tất cả những nghệ sỹ tự hô lên rằng sứ mệnh của họ là đấu tranh, là cải tổ xã hội, là khải mông cho quần chúng… Với tôi, bất kỳ tác phẩm nào, dù quy mô nhỏ hay lớn, hình thức biểu hiện ra sao, chỉ là sự thể hiện của bản thân người tạo ra nó trong mối tương quan với thế giới xung quanh. Nó có đại diện được cho kẻ khác hay không, đó là vấn đề của tác phẩm và của kẻ khác, không phải là ở người nghệ sỹ.

Lấy ví dụ trở lại là bạn Cầm Bùi. Dù có vinh hạnh được biết đến bạn ngoài đời, nhưng khi gặp nhau, tôi và bạn không bao giờ nói về các vấn đề quan điểm sáng tác, tự do dân chủ hay cái gì cả, chỉ nói về chuyện ăn gì ngon và trêu chọc lẫn nhau, vì thế, tôi cũng không rành bạn có muốn đại diện cho nhân dân hay không. Chỉ xét riêng vào trường hợp bài như tôi đã dẫn link, tôi thấy thích nhất ở chỗ là ở trong bài viết ấy chữ “tôi” được dùng rất rõ. Quan điểm trong bài được quy định rõ là “của riêng Cầm Bùi”. Tuy nhiên, khi bạn là nhà văn Phan An, nhất là nhà văn ấy lại bắt đầu có tiếng tăm, thì trong quan điểm của một số người, khi viết về một vấn đề như vậy, “bạn cần phải có trách nhiệm hơn với lý lẽ của mình”. (Trên thực tế thì ai chẳng cần phải có với lời lẽ của mình?) Với tôi, bạn Cầm Bùi khi viết bài trên, bạn ấy không phải là nhà văn Phan An. Lời của bạn trong trường hợp ấy, không phải là một tác phẩm nghệ thuật. Vậy nếu coi Quẩn quanh trong tổTrời hôm ấy không có gì đặc biệt là tác phẩm có tính đấu tranh của bạn, thì đó cũng là điều mà bạn cảm thấy, rút ra, bức xúc, đau thương từ trải nghiệm và quan sát của chính bạn.

Và nếu như đem bạn ra làm ví dụ, thì câu trả lời cho câu: “nghệ sỹ có nên đấu tranh không”sẽ là gì? Cầm Bùi bên cạnh việc viết ra các cuốn sách (và những hoạt động khác) thì có nên lâu lâu lại viết những bài phản đối thế này thế nọ hay không? Tôi nghĩ là có. Chỉ có điều, dù ở đâu đi nữa, họ chỉ cần nhớ họ chỉ là đại diện cho chính họ và đừng đặt mục đích kéo được kẻ khác về phe mình hơn tất cả. Khi làm thế, họ không còn là nghệ sỹ nữa. (Và tất nhiên, những quan điểm này cũng chỉ thuộc về cá nhân tôi, còn các nghệ sỹ tất nhiên họ vốn chẳng quan tâm gì đến chuyện tôi nghĩ gì).

Ảnh minh họa: Ngải Vị Vị nhảy Gangnam Style để đấu tranh (bằng cách thu hút sự  chú ý) cho quyền tự do ngôn luận.

weiwei27n-2-web

Còn câu hỏi số Hai bao giờ rỗi viết tiếp.

Nhân một bài viết về Ngải Vị Vị

Image

Ai Weiwei, hay phiên âm ra Hán Việt là Ngải Vị Vị là một trường hợp mà đa số những người vừa là nghệ sỹ vừa là người đấu tranh cho dân chủ, chính trị đều muốn được trở thành. Ông Ngải cũng là một người điển hình cho trường hợp mà các bạn nhà nho thường gọi là “danh chính ngôn thuận”, vì những gì ông ấy đã làm được cho đến nay trong lĩnh vực kiến trúc, điêu khắc… đều đã được đông đảo quần chúng và các nghệ sỹ khác ghi nhận. Một khi đã có vị thế, tiếng nói của người đó sẽ đáng được coi trọng.
Khi Ngải Vị Vị bắt chước điệu Gangnam Style trong cái còng tay để thu hút sự chú ý tới quá trình đấu tranh cho quyền tự do ngôn luận (mà phải nói là trong số những người nổi tiếng đã bắt chước điệu này, Ngải Vị Vị là người bắt chước giống bạn ca sỹ Hàn Quốc nhất), tờ New Yorker cùng nhiều tờ báo khác đã cho đăng tin long trọng. Không phải nghệ sỹ nào tại Trung Quốc cũng làm được điều đó.

Hôm qua, tôi tình cờ đọc được bài báo này: http://www.newrepublic.com/article/112218/ai-wei-wei-wonderful-dissident-terrible-artist#
Tác giả, không nghi ngờ gì cả, đã thể hiện thái độ coi thường những nỗ lực của ông Ngải Vị Vị trong việc trở thành một nghệ sỹ. Trong đoạn đầu của bài viết này, tôi chú ý ngay đến một chi tiết là việc tác giả nhắc đến một cuộc trình diễn nghệ thuật của ông Ngải, khi ông đập bể (đúng hơn là buông tay thả rơi) chiếc bình cổ thời Hán để chứng minh cho tinh thần đập bỏ cái cũ, tiến đến cái mới, phá vỡ rào cản của mình. Lần đầu tiên tôi đọc về cuộc trình diễn (nếu có thể gọi đó là trình diễn) này, tôi có lẽ cũng có chung cảm xúc với tác giả bài viết, kiểu như trong đầu phải bật lên một câu hỏi: Thế quái nào phải làm thế? Việc đập một cái bình cổ thật đáng tiếc, hẳn, nhưng điều quan trọng là tôi cảm thấy việc đập bình để nói “ta đang đập” thật là một thứ hành động quá trực ngôn, không đáng bàn, chưa kể lại còn hủy hoại tài sản. Tuy nhiên, tôi không biết nhiều về ông hơn mấy chuyện ấy, và đó cũng chỉ là một trường hợp hiếm hoi. Có một số lúc đọc báo lung tung gặp lại ông, xem hình chụp các tác phẩm của ông, tôi vẫn thấy rất ngưỡng mộ.
Tuy nhiên, nói thật là Ngải Vị Vị chưa bao giờ là nghệ sỹ mà tôi thực sự quan tâm (như những người lớn lên trong thời đại manga khác, tôi thích lần mò tìm hiểu về một số nghệ sỹ Nhật). Chỉ có một điều khác mà tôi nhớ đến khi nói về Ngải Vị Vị là việc ông từng bị buộc tội trốn thuế (để có cớ bắt ông khi ông đấu tranh cho dân chủ quá dữ dội và quá thành công) và khiến tôi nghĩ đến ông Điếu Cày. Chính vì thế, tôi chỉ đọc bài viết ở trên để cho biết vậy thôi, một số chỗ tôi còn cảm thấy tác giả quá khắt khe, dè bỉu và vơ đũa cả nắm. Tuy vậy, sau khi đọc bài viết dài ngoẵng với mục đích đẩy Ngải Vị Vị ra khỏi danh sách kiêu hãnh của giới nghệ sỹ, đặc biệt là danh sách của những nghệ sỹ đã thành công, tôi chỉ băn khoăn về hai việc:

1. Nghệ sỹ nên đấu tranh bằng lời hay nên tập trung sáng tạo nghệ thuật?
2. Làm thế nào để nhận định rằng một tác phẩm là nghệ thuật hay không nghệ thuật?

(Viết tiếp vào ngày mai)

Về bánh cuốn, hay là về tôi

Khác với sách, thứ tạo ra tôi.
Khác với phim, thứ giúp tôi bớt cô đơn.
Khác với nấu ăn, thứ giúp tôi hiểu về phụ nữ.
Khác với đế chế, thứ giúp tôi thiền.
Bánh cuốn, dù có liên quan đến tôi hay không, chỉ là bánh cuốn.

Loại bánh cuốn đầu tiên tôi được ăn là ở quê nhà heo hút. Loại bánh ấy đúng là cuốn, cuốn chặt, cuốn to. To đến nỗi bạn có thể trải cái cuốn ấy ra như tháo một cuốn giấy bạc, kéo dài từ đầu làng tới cuối làng mà vẫn chưa hết. Mỗi lần mẹ tôi chỉ mua chục cuốn như thế là cả nhà ăn no. Món bánh cuốn ấy, không biết ngon vì cái gì, vì nó chỉ có nhân là mấy miếng mộc nhĩ băm nhỏ. Nước chấm thì là một hỗn hợp giữa hành phi và nước mắm.
Chắc bạn đang mong chờ tôi sẽ nói: Ấy vậy mà ngon, ngon lắm!
Thực ra không phải vậy, tôi chẳng hề thấy nó ngon, kể cả khi tôi chẳng có gì để ăn.

Chỉ có ông ngoại tôi khen ngon. Tôi nghĩ ông đại khái cũng như tôi, đến một độ tuổi nào đó, người ta sẽ ăn vào cái ký ức, chứ không phải ăn chính món ăn đó nữa.

Loại bánh cuốn thứ hai là bánh cuốn ở thành phố Thanh Hóa. Chà! Đệ nhất bánh cuốn. Người ta sẽ hỏi cái gì tạo nên cái ngon của bánh cuốn. Thực ra thì ở tất cả mọi thứ. Bột ngon, nhân ngon, nước chấm ngon. Bánh cuốn Thanh Hóa với tôi là phần nào cũng ngon cả. Chưa bao giờ tôi thấy nó không ngon, kể cả khi tôi chia tay mối tình đầu, tôi tuyệt vọng vì cõi đời biến thái hay tôi sợ trái đất nổ tung.

Loại bánh cuốn thứ ba là ở Hà Nội. Ở Hà Nội có nhiều loại bánh cuốn. Loại thứ nhất không cuốn mà trải rộng ra thành từng chồng. Người bán bóc từng lớp lên, rồi cắt cắt cắt cắt, tanh tách như một con chấu ngứa giò. Loại bánh cuốn tiếp theo là loại bánh giả vờ cuốn, với tương đối loại nhân và loại rắc lên. Tôi luôn thích hàng bánh cuốn ở Hàng Bồ. Nhưng tôi không hẳn thích bánh cuốn ở đó vì bánh cuốn, mà tôi thích món ruốc tôm, tôi thích bà tráng bánh lúc ngồi cũng ngồi đúng tư thế đó, khuôn mặt coi thường khách hàng của bà.

Loại bánh cuốn thứ tư là ở Sài Gòn. Không có gì để nói tới. Sài Gòn gần với nơi sản xuất ra lúa gạo lớn nhất VN, nhưng lại là nơi bột làm bánh cuốn dở nhất. Nước chấm thì không thể bình luận, tôi không thích kiểu nước chấm của miền Nam, tôi sống 25 năm, tức là gần nửa đời người ở phía Bắc.

Loại bánh cuốn thứ năm là loại bánh cuốn Việt Nam tôi ăn ở nước khác. Ồ, đó là một món bánh kỳ lạ, không cuốn, không cắt, không có nước chấm giống bất cứ nơi đâu ở nước Việt Nam. Và kỳ lạ hơn nữa, bột bánh có màu xanh. Tôi gọi đó là món bánh cuốn Việt Kiều.

Tôi không phải là người ham ăn bánh cuốn. Nếu bước vào một nơi có bánh cuốn và nhiều món khác, tôi sẽ gọi món khác. Tuy nhiên, cảm giác về bánh cuốn là một cảm giác rất lạ. Mỗi khi ăn bánh cuốn, tôi lại nhớ đến những chuyện từ thuở ấu thơ. Mẹ tôi không bao giờ cho tôi mở hàng cho bà bán cuốn vẫn gánh ngang nhà tôi. Tôi là một đứa trẻ vụng về, chậm chạp, quá vùi mình trong sách, không phải là một đứa trẻ con tháo vát, lanh lợi, khôn ngoan.

Có một lần, vì tôi xăm xắn chạy ra mua, mẹ quát tôi quay vào, bà bán bánh cuốn lại tưởng mẹ quát bà, thế là hai bà mẹ giận nhau mãi.

Một lần khác, tôi và một người bạn đi ăn bánh cuốn ở thành phố Thanh Hóa, bỗng nhiên có một chó lao rầm vào xe đạp của cả hai đứa. Hai đứa ngã chổng kềnh, dập cả môi. Hóa ra con chó ấy lại là của nhà bán bánh cuốn. Nhờ thế, chúng tôi được tặng thêm mỗi đứa một cái bánh.

Thế rồi một lần gần đây, tôi và thần tượng của đời mình vào Wrap&Roll. Anh gọi bánh cuốn. Tôi ngồi dòm cái đĩa bánh, thấy bánh sao mà cuốn dài, sao mà nhỏ, sao mà lạ lùng đến thế. Rồi tôi kể cho anh nghe về bánh cuốn Thanh Hóa. Một cái bánh ở đấy ở đấy luôn thực sự là cuốn, không quá to, không quá bé, không phải là thứ cuốn giả vờ, không phải là thứ cắt tạch tạch tạch, không ăn với bánh tôm, không ăn với chả quế, không ăn với cà cuống, chỉ là cái bánh nhân thịt thế thôi. Nhưng khi người ta vừa tráng xong miếng bột trong nồi, cuốn lại, đưa cho mình, mình lấy đôi đũa xắn cái bánh ra làm đôi, phần bột dẻo của hai nửa vẫn dính vào nhau. Mặt bánh ươn ướt, nước chấm chua chua thanh thanh lại rắc thêm chút hạt tiêu. Ôi, bánh cuốn ấy mới thực là bánh cuốn.

Anh nhìn tôi cười ngặt nghẽo rồi bảo: Em biết gì không, con gái ngày xưa ai cũng thích mướt mát, ai cũng thích đơn sơ, mộc mạc thế. Giờ con gái khác rồi, phải dài ra, phải mỏng lại, phải thêm cái này, phải đắp cái nọ.
Nói rồi anh cắn sợi bánh cuốn kia cái phập.

Thành thử, cho đến giờ, mỗi lần đi ngang qua nhà ai đang phi hành, tôi lại nhớ đến bánh cuốn, rồi tôi nhớ đến anh. Và rồi, tôi nghĩ mãi về chuyện bánh cuốn, thật trăn trở, day dứt, và tôi kết luận, bánh cuốn ở thành phố Thanh Hóa vẫn là ngon nhất.

Chuyện cũ kể lại (2)

Bạn chưa bao giờ là bạn trai cũng chưa bao giờ là bạn của tôi bỗng đột nhiên một ngày nói: “Nước hoa của M sao chẳng thơm gì cả.”
Cũng mùi nước hoa ấy, trước đây, bạn luôn khen tôi sao mà thơm thế, đáng yêu thế. Chúng tôi đã có những ngày tuyệt vời, chẳng khác gì hương hoa ấy. Bỗng một ngày, nó không còn thơm tho gì nữa.
Nhà sản xuất không thay đổi thành phần tinh dầu, chỉ có bạn thay đổi. Tuy vậy, chuyện cái mũi của bạn thay đổi, không làm tôi ngừng dùng chai nước hoa ấy, kể cả khi tôi đã mua thêm nhiều chai khác.

Sau này, trong một cuộc trò chuyện giữa therapist và bệnh nhân, tôi kể cho therapist của mình nghe chuyện ấy. Anh nói: “Sao em không đổi nước hoa đi?” “Tại sao em phải làm thế? Bản thân em thích hương hoa ấy, sao em phải thay đổi vì một kẻ khác?”
Anh bảo tôi: “Bởi vì mỗi lần dùng mùi hương ấy, em sẽ nhớ lại câu chuyện kia. Anh đoán không phải vì em vẫn còn yêu mùi nước hoa ấy đến thế, mà chỉ vì em quyết tâm chứng tỏ mình vẫn là mình. Hai chuyện ấy rất khó phân biệt. Em hiểu chứ?”

Thú thật là tôi không hề hiểu.

Bạn trai của tôi về sau, một ngày nọ hẹn đón tôi. Khi tôi bước lên taxi cùng anh, anh bảo sao hôm nay em thơm thế. Hôm ấy tôi chỉ xức thử nước hoa của một người khác để xem nó có bám mùi không trước khi quyết định mua. Lời khen ấy không làm tôi quyết định mua chai nước hoa kia, vì tôi không thích mùi hương cuối còn lưu lại trên áo quần của mình.

Khi gặp lại anh therapist, không còn với tư cách bệnh nhân nữa, tôi lại kể về cả hai câu chuyện trên. Anh chỉ cười, nói rằng rồi tôi sẽ còn cô đơn dài dài.
Tôi cũng cười, chuyện tôi sẽ còn cô đơn suốt cuộc đời mình là chuyện không cần là therapist cũng hiểu được. Tôi chỉ luôn mơ ước có một căn phòng đựng đầy nước hoa và mỗi khi bước vào đó, tôi có thể nhìn từng chai và nhớ tới từng câu chuyện. Khi tới đoạn cuối đời, điều quan trọng là ta có thật nhiều câu chuyện để kể.

Và sau mọi chuyện tôi vẫn dùng chai nước hoa từng bị người khác chê. Vì tôi vẫn yêu nó, có thể, hoặc vì tôi không muốn quên đi những chuyện cũ. Dù buồn hay vui, khi đến tới đoạn cuối đời, câu chuyện cũng chỉ còn là câu chuyện. Và, chúng cần phải được nhớ đến.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 169 other followers