Moonie Mun

Hãy tham gia cùng, nếu bạn muốn

Posted in Nhảm thoải mái by Moonie Mun on March 15, 2014

Cách đây một vài tháng mình có nói rằng sẽ làm một cái mini public library, sách để sẵn ở đó, ai cũng có thể đến lấy, miễn là thế vào đó bằng một cuốn khác. Có rất nhiều người bảo ở VN sẽ không làm được chuyện đó, nhưng có anh Hung Ngo ủng hộ, và các bạn team Vẽ Kể Chuyện hỗ trợ, tất cả bọn mình đã bắt đầu thực hiện.
Kết quả ra sao không phải phụ thuộc vào bọn mình mà phụ thuộc vào tất cả mọi người. Nhưng dù có thất bại, bọn mình cũng sẽ có nhiều chuyện để kể cho mọi người.
Dự án của bọn mình tên là Book Box, nơi đặt đầu tiên sẽ là bên ngoài một workspace kiêm cafe bên quận Bảy. Sẽ có rất nhiều book box đặt ở nhiều nơi, phụ thuộc vào mức độ sách quyên góp được.
Đây là dự án thuộc về tất cả mọi người, nên bọn mình mong nhận được sự hỗ trợ của tất cả mọi người.

- Nếu là chủ tiệm cà phê có thiện ý cho Book Box mượn chỗ đặt book box bên ngoài thì các bạn cho xin chút thông tin vào form bên dưới (các bạn lưu ý là bọn mình mong tủ sách để bên ngoài cửa, người đổi sách không phải bắt buộc bước vào tiệm) và giúp bọn mình sáng bê hộp ra ra, tối bê hộp vào (vì để qua đêm sợ các cô đồng nát nhặt mất). Quán sẽ được giới thiệu trên Fan Page, trong bản đồ box của dự án và website (đang xây).

https://docs.google.com/forms/d/197Q4VOQQrF5xJYa-_bbmis9x-bf4yUmuIJz2Goa0kUA/viewform

- Các bạn có sách không đọc nữa thì mong đóng góp cho bọn mình. Bao nhiêu cũng hoan nghênh. Bạn cho xin chút thông tin vào form này nhé.

https://docs.google.com/forms/d/197Q4VOQQrF5xJYa-_bbmis9x-bf4yUmuIJz2Goa0kUA/viewform

- Mình cần một ai đó giúp mình làm website để dễ chia sẻ thông tin. Book Box hoạt động hoàn toàn tên tinh thần tình nguyện, phi lợi nhuận nên cái này cũng kêu gọi tình nguyện luôn.

- Các bạn có thể tự đóng box, tự thiết kế box, không có gì giới hạn cả ngoài chuyện mình kêu gọi sơn màu xanh ngọc lam để tạo sự thống nhất và phong trào. Mình và But Chi, anh Hung Ngo hiện đang đầu tư tiền làm những cái box đầu tiên, nhưng nếu ai muốn hỗ trợ tiền bạc để bọn mình đóng box thì cũng cực kì welcome.

- Book Box không phải là ý tưởng do mình phát minh ra, chỉ vay mượn ở nơi khác, nhưng mình mong tất cả các bạn nếu có ý tưởng tương tự thì liên hệ với mình, để tạo ra một network lớn và có thể hỗ trợ nguồn sách cho nhau.

- Hoạt động của Book Box không giới hạn trong tỉnh thành nào cả. Nếu bạn không ở SG, bạn cũng có thể tự làm book box và quyên góp sách tại địa phương. Bạn cũng có thể liên hệ với bọn mình để lấy sách nếu bọn mình có sẵn.

- Team Book Box luôn cần tới sự giúp đỡ của các tình nguyện viên, các bạn nếu có thời gian và muốn tham gia thì cho mình xin ít thông tin vào đây nhé:

https://docs.google.com/forms/d/1pfkx4uv54z1BrlEZ_LTWgfh9nmkZN_7HtDtPjcd8MaE/viewform

Mình biết là dự án tự phát cộng đồng này sẽ có đầy khiếm khuyết và luôn sẵn sàng lắng nghe mọi lời khuyên để phát triển tốt. Mọi đóng góp và lời khuyên khác, các bạn có thể gửi tới duanbookbox@gmail.com nhé.

Chuyện cái nhà vệ sinh

Posted in Nhảm thoải mái by Moonie Mun on March 12, 2014

Cách đây (ối trời ơi) nửa năm, tôi cần phải thuê một địa điểm tổ chức lớp học. Khi đó, sau một hồi lượn vè vè qua một số nơi, tôi cảm thấy không ưng ý với nơi nào cả. Chỗ thì quá chật, chỗ thì quá ồn, chỗ thì quá tối, chỗ thì quá bí, chỗ thì không đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật, và chỗ ưng ý thì lại không phù hợp về thời gian… và cuối cùng thì tôi dừng lại với việc chọn một nơi có mức tiền thuê khá cao so với kinh phí của chúng tôi, nhưng là một lớp học đã được trang bị khá đầy đủ các phương tiện cần thiết, và địa điểm khá an ninh.

Vào lúc đó, khi tôi hỏi có nên nói với các học viên về phòng học không (hơi có một tí so sánh bởi lớp học trước đó ở Hà Nội do một công ty tổ chức và họ chả mấy quan tâm tới điều kiện của phòng học), thì bạn partner nói rằng không cần thiết. Sau đó bạn có trêu tôi là nếu đã muốn giới thiệu phòng học, thì nên giới thiệu luôn cái nhà vệ sinh chăng. Tôi nói nếu có ai hỏi thì tôi cũng chẳng ngại đâu.

Và đúng lúc đó, tôi nhận ra sự coi thường cái nhà vệ sinh của rất nhiều người.
Cá nhân tôi luôn phải coi xét cái nhà vệ sinh đầu tiên khi quyết định thuê một ngôi nhà nào đó. Và khi bước vào một cái quán, thì tôi không đánh giá vệ sinh của nó bằng chuyện đĩa hay bát có trắng hay không, mà ở cái nhà vệ sinh có sạch hay không. Nếu bạn tình cờ phải ghé thăm nhà vệ sinh của một cái quán nào đó, và nếu nó không sạch, thì chắc chắc thiện cảm của bạn dành cho cái quán ấy sẽ giảm đi không ít đâu. Và tôi đã mất thiện cảm với không ít cái quán theo cách ấy. Trong khi đó, có nhiều cái quán rất xoàng xĩnh, nhưng tôi lại đánh giá họ rất cao vì cái nhà vệ sinh sạch sẽ, tiện dụng cho khách.
Chuyện ấy cũng như ra đường thơm tho mà về nhà dơ như lợn. Tôi tệ hơn, không những cái nhà bừa như chuồng lợn, mà ra đường cũng khá bù xù, tuy nhiên, điều ấy không làm tôi thay đổi quan điểm là nên đi vệ sinh trong một cái nhà vệ sinh sạch sẽ. Cái chỗ kín đáo riêng tư ấy trong nhà không phải là nơi bạn chụp hình khoe lên instagram mỗi ngày, cũng không phải là nơi bạn thường bày hoa để mời khách vào ngồi, nhưng rõ ràng là nơi bạn không thể không ghé thăm mỗi ngày. Nó là nơi bạn giải tỏa khó chịu, nghe nhạc, đọc sách, xả sạch bụi bẩn, là nơi bạn có thể chui vào khóc khi cần và nếu thích thì hút cỏ mà không bị bắt gặp. Đôi khi, bạn cũng có thể yên tâm tự tử trong đó nữa. Và điều đó cho thấy nó rất quan trọng. Hãy giữ cho nó tinh tươm, sạch sẽ.

Nói đến đây lại nhớ mẹ tôi. Ngôi nhà riêng đầu tiên của gia đình tôi là một ngôi nhà tranh, nền đất nện, nhưng ngay khi mới chuyển đến, mẹ đã cho xây một cái nhà vệ sinh tự hoại (trong khi hầu hết người dân thời đó vẫn dùng dạng nhà vệ sinh hai ngăn). Tôi vẫn nhớ mẹ nói là ngủ ở đâu cũng được, nhưng đi vệ sinh thì nên đi cho đàng hoàng. Mẹ tôi thật là tuyệt vời, nhỉ?

Lời chào không cần đi trước

Posted in Nhảm thoải mái by Moonie Mun on March 1, 2014

Hôm nay khi đi qua một ngôi nhà nọ, tôi tình cờ nghe thấy một người phụ nữ nói với một đứa trẻ: “Chào cô chưa?”

Than ôi, tuy chưa làm thống  kê nhưng tôi đảm bảo đó là một trong những câu trẻ con phải nghe nhiều nhất. Chào cô chưa, chào chú chưa, chào bác chưa? Một vị người lớn nào đó xuất hiện và khi đứa trẻ đang ngơ ngác nhìn, họ đã chỉ vào mình và bảo: Chào chưa. Thật là một nỗi ám ảnh!

Nhưng cũng không phải tự nhiên mà tôi thấy khó chịu với chuyện đó. Thời tôi còn bé, nhà tôi có một quán tạp hóa nhỏ, tình cờ thay lại nằm ngay ở cửa ngõ đi về của cả một khối dân cư. Thường các buổi chiều, tôi sẽ ra ngay trước quán ngồi, đọc truyện tranh, đọc sách, đọc báo, hoặc ngửa cổ nhìn lên tán phượng với một sự đăm chiêu hiền triết hết chỗ nói. Thế rồi một ngày, mẹ tôi bỗng ở đâu về nổi cơn tam bành, vì có một ông hàng xóm nọ vừa bình luận với mẹ tôi là tôi khinh người, thấy người lớn đi qua mà không thèm chào.

Chuyện mẹ tôi nổi cơn tam bành dẫn tới mấy hệ quả.
Thứ nhất là tôi không quan tâm, vì mẹ nổi cơn tam bành suốt. Mẹ lúc nào cũng mau chóng nổi giận, hét lên rất to, át hết mọi giọng của người khác, bất kể thời điểm nào trong ngày với những chuyện chẳng biết ở đâu ra. Tôi rất ít quan tâm tới lý do, tôi chỉ quan tâm tới việc bao giờ mẹ ngừng nói để tôi được tĩnh trí mà nghĩ điều tôi muốn nghĩ.

Nhưng vì tôi không quan tâm, lại dẫn tới hệ quả thứ hai là mẹ tôi liên tục nổi tam bành về chuyện tôi không chào người lớn khi họ đi ngang nhà mình.

Thế nhưng, điều quan trọng là tôi chẳng bao giờ nhận ra có ai đi ngang qua trước mặt mình. Một khi đã cầm sách lên, thế giới xung quanh tôi sẽ biến mất. Tôi không thấy ai trong đời thực đi ngang qua thế giới tưởng tượng của tôi cả. Và nếu tôi không đọc sách, thì chắc chắn là tán phượng trên kia hấp dẫn hơn mặt đất, và tôi không bao giờ muốn nhìn xuống để nhận ra có ai đó vừa lướt qua mặt đất cả.

Dẫu vậy, sau khi nghe mẹ la hét quá nhiều, tôi quyết định sẽ chào người lớn.

Tôi ngừng đọc sách, và thấy ai đi qua tôi cũng cười rõ tươi và chào rõ to, y như các em bé trong phim truyền hình.

Và vẫn có hệ quả thứ ba là tôi phản ứng. Tôi chào tất cả mọi người, nhưng riêng ông hàng xóm đã bảo một đứa trẻ 12 tuổi là đứa coi thường người khác thì tôi nhất định không chào. Tôi không chấp nhận được việc một người lớn đem sự tự ti ngầm của mình đổ tội cho một đứa trẻ (như tôi đã bình luận với mẹ “chú ấy thấy ai cũng khinh thường chú ấy nên chú ấy đổ tội cho con”). Đó là chưa kể, sau khi nói với mẹ tôi và vẫn không thấy tôi chào, ông hàng xóm kia đã đi bình luận về tôi (học giỏi mà láo toét) và mẹ tôi (không biết dạy con – điều làm mẹ tôi nổi tam bành) với tất cả những người quanh nhà.

Tôi không thể hiểu được tại sao một lời chào lại quan trọng đến thế, nhưng một khi nó đã quan trọng, thì tôi chỉ trao nó cho người tôi thấy xứng đáng. Đấy, hồi nhỏ tôi đã nghĩ thế đấy.

Sau này, khi đã lớn lên, già đi, và đáng lẽ đã phải có một đứa con sắp vào lớp 1, tôi thấy rằng lời chào quả là quan trọng. Đó là cách thể hiện sự ghi nhận rằng tôi có biết bạn đang tồn tại quanh tôi, tôi có quan tâm tới bạn, sự vui vẻ của bạn là một phần sự vui vẻ của tôi, tôi mừng vì bạn vẫn ở đó để tôi chào… Nhưng, tôi vẫn không bao giờ nghĩ rằng hễ trẻ con gặp người lớn thì phải chào. Nó có thể chào, nếu nó muốn. Và muốn làm cho đứa trẻ ấy muốn chào mình, trước hết mình phải là một người lớn tốt và lịch sự, và tuyệt đối không bao giờ yêu cầu đứa trẻ phải chào mình trước.

Tôi luôn nói rất to: “Cô chào Cún” với cô bé 4 tuổi hàng xóm. Cô bé thường sẽ tít mắt cười đáp lại và nói lí nhí: “Con chào cô!”. Nhưng cũng có hôm cô bé chắng đáp lại gì cả, và đi vào nhà. Khi đó là tôi biết trong thế giới 4 tuổi của cô có cái gì đó đang diễn ra rồi đấy! Và tôi thấy vui vì việc đó. Bằng việc chào, người ta có thể biết được xúc cảm người kia. Dù đó là ai, nhưng nếu ta đủ quan tâm để chào họ, ta luôn biết thêm được một chút về họ.

Và kết luận, tôi nhắc lại, nếu muốn trẻ con chào mình thì hãy luôn chào chúng trước. Bởi vì trẻ con luôn có thế giới của riêng chúng, nếu bạn không ngoan, bạn sẽ chẳng bước vào được đâu.

Viết tặng Sài Gòn

Posted in Không có ai nói chuyện, Nhảm thoải mái by Moonie Mun on February 7, 2014

Một thành phố tuyệt vời là một thành phố mà ngay khi ta không đi đâu cả, ta đã biết rằng mình sẽ rất nhớ nơi này. Sài Gòn với tôi là một thành phố như vậy đấy.

Khi bạn tôi chuẩn bị rời khỏi nơi đây để theo đuổi điều anh gọi là một “giấc mơ của kẻ tiểu nhân”, anh nói không có nơi nào anh nhớ bằng Sài Gòn. Sài Gòn là nhà anh, là tình yêu của anh, là nơi anh sẽ luôn quay trở lại. Và tôi cũng tin mình sẽ nhớ Sài Gòn. Dù Sài Gòn không phải là nhà tôi, không phải là tình yêu của tôi, nhưng nơi đây chắc chắn sẽ là nơi tôi trở lại.

Cậu tôi có một quán nhậu trong một con hẻm trên đường Điện Biên Phủ. Các nhà xung quanh ai cũng có quán của họ. Tuy nhiên, từng đấy gia đình luân phiên sử dụng không gian chung để buôn bán. Buổi sáng bà bán phở dọn ra, dù mợ tôi bán hủ tíu sáng, nhưng không bao giờ mợ tranh chỗ đó. Buổi chiều, bà bán phở dọn vào, chỗ đó lại thành nơi gửi xe máy cho quán của nhà cậu mợ. Nhà bên bán cháo vịt, nhưng họ vẫn để một chỗ trống cho mợ tôi đặt bếp.

Tôi thích những con hẻm của thành phố này. Chỗ này một cụ ông đang ngồi thẩn thơ hồi tưởng những ngày trẻ tuổi. Chỗ kia một cô đang chải lông cho con chó xù. Chỗ nọ một em bé thò đầu ra, gọi “ba ba”. Người này buôn món này, người kia buôn món khác. Nếu hỏi đường họ, họ gọi ta là con, chỉ đường cho ta, trong sự đơn giản, không nhiệt tình cũng không lạnh nhạt. Trong sự chật vật bươn chải của họ có một sức sống mãnh liệt như ánh nắng.

Tôi thích những con đường quanh trung tâm quận 1. Sài Gòn của Sài Gòn. Những phụ nữ đẹp mặc những bộ đồ đẹp, ngồi thảnh thơi bên ly nước của họ. Họ nói về những chuyện phù phiếm của phụ nữ. Họ nói về những chuyến đi. Họ sống cuộc đời độc lập, yêu bản thân mình. Và họ mặc kệ những kẻ gọi họ là vô tình. Có ai trong chúng ta mà lại chẳng vô tình?

Tôi thích những buổi sáng đi chiếc xe cub vàng của mình dọc những con đường lá me xanh như tỏa ra vầng hào quang chói lọi, trả lời hộ tôi những câu hỏi về mình. Những con sóc nhỏ thoắt chạy qua, rồi mau chóng lẩn vào những vòm lá. Một con chim tròn vo bay vù lên, và hoàn toàn biến mất giữa không gian xanh vô tận. Ai đó đi ngang qua hỏi tôi mua xe ở đâu, gật gù khen xe xinh quá, rồi bỏ đi.

Và tất nhiên rồi, tôi sẽ nhớ Sài Gòn.

Tôi sẽ nhớ những đêm mưa ào ào, lạnh mà không lạnh. Mùi cà phê thơm sực lên gọi mời, tiếng mưa không ngớt bên ngoài và mùi tinh dầu thơm dìu dịu. Chăn ấm loạt soạt và tiếng chim sẻ líu ríu mỗi buổi sáng. Tôi đã đi qua những ngày tuổi trẻ trễ nải, chẳng làm được gì ngoài việc dịch mấy cuốn sách. Nhưng tôi đã có thời gian của mình.

Tôi sẽ nhớ những đêm đi cùng người bạn cũ qua những quán bar ầm ầm tiếng nhạc. Bàn tay bạn nắm chặt và cả thế giới im bặt đi như chờ một lời nói thật khẽ. Sài Gòn không bao giờ ngủ. Tôi có thể nhảy nhót như dở hơi trong quán bar đêm nay, ngày mai tôi lại là một người phụ nữ ngơ ngác đứng trước cổng, chờ người mình yêu mến đến đón.

Và tôi nhớ những buổi chiều ngồi trên chiếc ghế tựa như một vòng tay ôm. Bạn tôi ngồi kiên nhẫn nghe tôi nói. Kiên nhẫn, kiên nhẫn, và đáp lại bằng một giọng nói không âm sắc, không cao, không thấp. Chính vì thế, anh nhẹ nhõm như một tán lá dưới ánh nắng trưa Sài Gòn. Anh đưa tôi đi tới những quán cà phê xinh đẹp. Ai mà lại không mê cà phê Sài Gòn, ai mà không thích ngồi ở đó, nói thật nhiều hoặc không nói gì cả, mỉm cười bâng quơ nhìn ra đường.

Tôi nhớ những khoảnh khắc điên rồ ở thành phố này. Cái hôn nhẹ lên môi khi chào nhau ở thang máy, ngón tay chạm khi rời khỏi taxi, một ánh nhìn dành cho mình từ phía bên kia cửa sổ… Và tôi yêu nó vì những người bạn đồng tính của tôi được phép là họ. Không ai phán xét, không ai cợt nhả, không ai đề phòng. Sài Gòn là một bữa tiệc lớn với nào quán ốc, nào quán nhậu, nào quán bia, nào quán cơm tấm, phở, bún riêu, bún mắm… Một bữa tiệc lớn cho người ta được riêng tư.

Có lẽ, tôi sẽ luôn quay lại với Sài Gòn vì điều đó.

Cuộc sống cứ đổi thay: Tại sao các câu truyện, chứ không phải khoa học, giải thích về thế giới

Posted in MyTranslation by Moonie Mun on January 29, 2014

Hôm nọ tôi đọc được bài viết này trên The Atlantic.

http://www.theatlantic.com/entertainment/archive/2014/01/life-keeps-changing-why-stories-not-science-explain-the-world/283219/

Và tôi nhớ đến trong buổi học cuối cùng của lớp Vẽ Kể Chuyện, có một bạn đã hỏi chúng tôi về chuyện cậu có nên bỏ học đại học hay không. Tôi và But Chi đều khuyên cậu không nên bỏ, vì thời gian còn lại còn ngắn, vì đôi khi ta phải cho mình biết ta có thể kiên nhẫn đến đâu. Dẫu vậy, khi nghĩ lại về mọi việc, đôi khi chúng ta cũng phải liều để biết ta có thể làm được gì. Và đó chính là một phần lý do tôi quyết định dịch đoạn viết này của Jennifer Percy, một nữ tác giả trẻ, còn chưa ra cuốn tiểu thuyết đầu tay (dự định sẽ ra vào tháng Sáu). Tôi luôn thích những bài viết kể về cuộc đời chính mình của các tác giả, bởi vì đó là cách họ nói về tất cả chúng ta. Và tất nhiên, tôi muốn dịch bài này để chia sẻ với tất cả các bạn học viên của Vẽ Kể Chuyện, những người đã cùng chúng tôi tin “Thế giới được tạo ra từ những câu chuyện”.

 

Những bài học cha dạy tôi thời bé đều chỉ xoay quanh khoa học. Cha là một nhà vật lý học nghiệp dư và chỉ nhìn thế giới qua lăng kính ấy. Tôi nhớ cha nói rằng chúng ta đều được tạo thành từ bụi sao, rằng các nguyên tử trong cơ thể chúng ta đã khởi nguyên từ các vì sao hàng triệu năm trước. Hoặc, nếu chúng ta bước vào một lỗ đen, chúng ta sẽ biến thành một dòng hạt hạ nguyên tử như thế nào. Tôi nhớ cha đã bảo chuyện suy giảm áp suấttrong vũ trụ quan trọng, rằng mắt ta sẽ lòi ra khỏi tròng như ra sao.

Thế giới tự nhiên là một phần lớn lao trong tuổi thơ tôi. Chúng tôi sống ở vùng nông thôn Oregon, giữa những ngọn núi và sa mạc, dân cư không được lấy làm đông đúc. Chúng tôi hưởng cuối tuần giữa hoang dã. Đêm rất đen, và hàng đêm, chúng tôi ra ngoài, nhìn qua ống viễn vọng lên những vì sao. Nhưng với cha đó không phải là những vì sao. Cha gọi chúng là “những mặt trời đang tàn lụi.”

Nếu tôi làm cháy một cái bánh quy hình người trong lò, và khóc lóc với cha vì chuyện ấy, cha đáp, “Chà, một ngày nào đó mặt trời sẽ phá hủy trái đất. Và chúng ta sẽ như cái bánh quy hình người đó thôi.”

Suy luận khoa học đó làm tôi khiếp hãi – nhưng cha tìm thấy sự an ủi trong việc đi tới các vì sao. Cha trốn khỏi lãnh địa rối rắm là sự tồn tại của nhân loại, thứ cha gọi là “thực tế hỗn loạn” hoặc “rắc rối nhân sinh.” Khi bạn hình dung rằng chúng ta chỉ là một phần của tảng đá, những mối lo bé nhỏ trở nên chẳng đáng bận tâm. Cha đặt một tấm hình trên bàn làm việc, chụp từ kính viễn vọng Hubble, nhìn từ xa giống như hình dạng của các ngôi sao – nhưng nếu nhìn kỹ hơn, thì đó không phải là sao, đó là toàn bộ các dải ngân hà. Cha tôi thấy rằng, hãy hình dung trái đất tí hon giữa những dải ngân hà đó – đột nhiên, một ngày bất hạnh, công việc rắc rối, chúng biến mất.

Thế nhưng, tôi thấy sự bao la khủng khiếp đó của vũ trụ thật đáng sợ. Anh trai tôi và tôi, như nhiều đứa trẻ khác, định hình tính cách từ việc sục sạo các cuốn sách mình có ở nhà, và chúng tôi chỉ có hai loại sách: sách vật lý hoặc sách Stephen King. Cả hai đều đáng sợ. Vì thế chúng tôi phải chọn nỗi sợ nào làm mình thích hơn – nỗi kinh hoàng trước vũ trụ hay nỗi kinh hoàng trước gã hề sống trong máy khâu và toan giết bạn. Tôi nghĩ anh trai tôi đã chọn Stephen King và tôi chọn Stephen Hawking.

Tôi theo đuổi sự nghiệp khoa học, và thời học đại học, tôi đã học ngành vật lý. Tôi đã làm việc với những người đã làm ra Mars Rovers (cỗ máy chạy được trên bề mặt sao Hỏa) và hiểu được đặc tính của tinh thể và lái máy bay giảm trọng lực qua vịnh Mexico, tưởng tượng họ đang thực hiện cú nhảy không gian. Nhưng tôi chẳng hề vui.

Ngôn ngữ của khoa học không làm tôi thỏa mãn. “Điều khó hiểu nhất của vũ trụ là nó khó hiểu,” Einstein từng nói. Nhưng tôi không nghĩ mối quan hệ của loài người là hoàn toàn dễ hiểu. Chúng có thể được tách bạch ra từng khoảnh khắc ngắn ngủi tươi đẹp, nhưng rồi chúng có thể thay đổi. Không giống như thí nghiệm khoa học với các thông số đảm bảo, nghiêm khắc, cuộc sống của chúng ta là vô hạn và bất định. Và chẳng bao giờ có phần kết của câu truyện cả. Chúng ta cần nhiều hơn khoa học – chúng ta cần truyện kể để nắm bắt lấy sự phức tạp ấy, sự không thể hiểu nổi ấy.

Và đây chính là vấn đề cơ bản của việc viết ra các tác phẩm phi hư cấu. Mọi người hỏi, “Sao bạn có thể viết về tiểu sử của người khác? Làm thế nào bạn mô tả đầy đủ được?” Chà, thì bạn có làm thế đâu. Đó là kỹ năng. Có những khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng mảnh nhỏ, chúng kết tinh lại mọi thứ – nhưng chúng là một phần của một điều gì đó lớn hơn luôn thay đổi và biến động. Thậm chí nếu bạn viết một cuốn tự truyện, bạn chỉ có thể nắm bắt được một chút mẫu nghiệm của cái bản thể lớn hơn. Bạn sẽ không bao giờ thâu tóm hết toàn bộ cuộc đời trên trang sách, bởi vì cuộc sống cứ luôn thay đổi.

Dù sao đi nữa, tôi đã bắt đầu viết lách thay cho việc đi học theo yêu cầu. Tôi viết về nước Nga vì tôi đã trải qua mùa hè năm ấy ở trên Vòng Bắc Cực nghiên cứu cây cối, cá và trái thông và dân Nga đã không làm tốt việc giữ cho mọi thứ trên đó sống sót như thế nào. Nơi ấy thật phi thực. Không bao giờ tối. Vodka tràn trề. Tôi đem lòng yêu anh chàng người Mỹ kia và chúng tôi hẹn hò – dù hẹn hò ở đó tức là sao đi nữa – nhưng tôi không bao giờ có thể nói cho anh ấy biết tôi yêu anh ấy nhiều như thế nào. Tôi chỉ chết mòn đi trong tâm khảm. Vì thế tôi phải viết về anh ấy để làm cho anh ấy, có thể, làm cho anh ấy bớt quyền năng hơn và cũng để anh hiểu sự điên rồ mà tôi cảm thấy. Và tôi đã viết. Quả thực là tình yêu đã khiến tôi viết. Tôi bắt đầu đọc James Joyce, Virginia Woolf và C.S. Forester, và tôi thấy mình là con người hoàn toàn bình thường trong những cuốn sách ấy. Có một vị giáo sư, David Price, và ông ấy đã giảng thật hay về văn chương. Các nhân vật sinh động tới mức như họ đang dạo quanh phòng cùng chúng tôi. Ông giới thiệu cho chúng tôi một truyện ngắn tên là “The Ledge” của Lawrence Sargent Hall. Đó không phải là một tác phẩm nổi tiếng, dù nó có xuất hiện trong một số tuyển tập, cũng như trong Những truyện ngắn Mỹ hay nhất thế kỉ, do John Updike biên tập. Nó kể về một ông già đánh cá đã rời khỏi cái giường ấm áp của bà vợ để đi săn vịt biển với con trai. Ông đã hứa với con là sẽ đi săn. Cuối cùng, khi họ tới nhặt con vịt đã bị bắn chết trên cát, con thuyền đã bị cuốn trôi ra biển và họ mắc kẹt lại với nhau, nước dâng lên, và họ chờ chết.

Nói lại lần nữa, tôi lớn lên ở một vùng đất mà tự nhiên luôn chế ngự cuộc sống của mình, luôn thâm nhập vào cảm giác của tôi – dù về nghĩa đen là sự hoang dã, hay về nghĩa bóng qua những bài giảng khoa học của cha. Và truyện “The Ledge,” với dòng thủy triều chết chóc, xâm lấn dâng cao, đã tác động sâu sắc tới tôi. Nó giúp tôi định hình những câu hỏi quanh việc vũ trụ mênh mông và khủng khiếp tồn tại song song cùng thứ tình yêu thông thường hay các tình huống xảy ra mỗi ngày như thế nào. Câu chuyện để lại cho chúng ta hình ảnh của lão đánh cá bị bắt lấy một cách không thương tiếc giữa hai thế giới. Nó đúc nên một câu hỏi đã trở thành ám ảnh, theo tôi vào trong những gì tôi viết: chuyện gì sẽ xảy ra cho nhân vật của bạn khi tự nhiên và con người va đập vào nhau dữ dội. Trong đoạn viết tôi chọn ở đây, người cha đã nhấc bổng con trai ông lên vai. Biển đang dâng. Con chó đã chết. Con thuyền đã trôi. Khi nước dâng ngập ủng của ông, mọi thứ như đi đến tận cùng, và vùng nước ông thông thạo và tưởng đâu đã biết rõ và khống chế được, giờ đang trở nên kinh khủng. Đó là hình ảnh của lễ rửa tội, nhưng là rửa tội trước khi chết. Đây là điều sẽ xảy ra tiếp:

“Cậu con trai đã làm cho ông điều tuyệt vời nhất có thể làm trong lúc ấy. Cậu còn quá  nhỏ để hiểu trọn nỗi kinh hoàng, nhưng cậu cũng đủ lớn để biết có những điều vượt quá khả năng kiểm soát của bất cứ ai. Cậu đã làm điều cậu có thể, bằng việc tin tưởng hoàn toàn điều cha mình làm, và không thắc mắc gì thêm.

Người đánh cá, bị biển làm cho hoảng loạn tận tâm can, nhắm chặt mắt trước màn đêm vô tận.

“Chúng ta bơi chưa?” cậu bé hỏi.

Người đánh cá nói không nên lời. “Chưa đâu,” ông đáp. “Vẫn chưa đâu.”

Người đánh cá đã phạm phải sai lầm chết người, cậu con vẫn giữ lòng tin tưởng vào cha mình. Việc chọn giữ lấy hi vọng hão huyền ấy, điều mà chẳng ai thực sự tin tưởng cả – họ đều biết rằng họ không thoát nổi, thật đẹp đẽ. Chúng ta phải giữ lấy tình yêu ấy để giữ cho nhân loại còn sống sót đến ngày nay, thậm chí cả khi nước dâng lên ngập quá miệng ta, tràn vào phổi ta và đưa ta về phía cái chết.

Chúng tôi không bao giờ biết mình sẽ phản ứng ra sao trong những tình huống đặc biệt. Chúng ta có thể bước vào thế giới, đóng bất cứ vai diễn nào chúng ta chọn để đóng, nhưng có thể sẽ có một thời điểm mà việc đóng vai không thể tiếp tục nữa. Người đánh cá và cậu con trai đã đóng vai đến tận cuối. Nhưng độc giả biết chính xác chuyện gì đang xảy ra – và có thể thấy được dòng độc thoại nội tâm, những suy nghĩ và biểu hiện cơ thể cho thấy ông đã khiếp sợ, và ông đã thất bại. Họ không chỉ chết giữa biển – họ còn biến mất vào trong biển. Hall đã nói lên được một điều từ đó. Cái chết xảy ra bên ngoài sân khấu, và chúng chỉ thấy điều xảy ra sau đó – đó là một kỹ thuật mà Flannerry O’Connor cũng từng dùng trong các khoảnh khắc bạo lực kinh khiếp, bởi chuyện xảy ra trong tưởng tượng thường kinh hoàng hơn sự thực. Nhưng hình ảnh mà chúng ta có được, hình ảnh ở lại trong tôi mãi mãi, là con sao biển bám lấy ủng của người đánh cá. Thậm chí cả con sao biển vẹo vọ kia cũng chế ngự được con người đó. Thật là một khoảnh khắc đáng thương hại của loài người.

Nhưng đó không phải là dư âm của truyện. Mà phải là những lời của người đánh cá nói trước khi nước tràn vào phổi ông và giết chết ông. Con trai ông hỏi đã đến lúc bơi chưa. Và tất cả những gì người đánh cá đáp chỉ là, “Chưa đâu. Vẫn chưa đâu.” Tôi hình dung đó là điều tất cả chúng ta đều nghĩ khi phải đối mặt với sự hữu hạn của mình và tôi thích cách chúng ta có thể thấy rằng người đánh cá đã đính chính lại suy nghĩ của ông – làm nhẹ đi chữ “Chưa đâu” thành “Vẫn chưa đâu.” Chữ “vẫn” có ở đó vì chúng ta biết cái chết là không tránh khỏi nhưng ông vẫn van nài thêm một chút xíu thời gian để ở với con trai. Chúng ta nghe những lời này vang vọng trên phần giấy trắng. Hall đã để chúng trở thành bất tử theo một cách riêng.

Để tiếp tục câu chuyện, ngôn ngữ của vật lý không giúp tôi nối liền khoảng trống. Có một sự trống rỗng mà vật lý học không giúp tôi xóa tan đi được. Nhưng các câu truyện thì có. Trò chuyện với mọi người là chưa đủ, nhưng nếu tôi có thể bước vào một thế giới, và được giữ chặt ở đó trong vòng tay của nó, thì tôi có thể mời những người khác cùng bước vào trong thế giới ấy. Vậy là tôi đổi ngành học của mình từ Vật lý sang Anh ngữ. Tôi nghĩ mình thực sự đã khóc khi nộp đơn – thật đáng sợ khi phải từ bỏ mọi kế hoạch và bắt đầu một điều mới. Nhưng tôi đã đủ khả năng viết ra những điều thật quan trọng mà tôi chưa từng có thể nói ra trước đó. Và, tất nhiên, đó chính là công việc của văn chương. Trong truyện ngắn của Chekhov, “Nụ hôn”, có một khoảnh khắc đổ bóng lên tâm trí của nhân vật chính – khoảnh khắc của nụ hôn – nó diễn ra mà không cần tới bất cứ sức mạnh hay ý nghĩa đặc biệt gì anh từng nghĩ tới. Câu chuyện kết thúc ở đó. Tôi nhận ra mình thường cảm thấy như vậy: Khi tôi cố để giao tiếp với mọi người thì cây cầu không phải lúc nào cũng được nối. Viết lách là điều đầu tiên khiến tôi cảm thấy mình có thể tạo ra một mối liên hệ chuyển động cả về hai phía, một con đường hai chiều giữa tôi và toàn bộ phần còn lại của thế giới.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 1,489 other followers